1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tại sao tiếng Việt được xếp vào nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer?

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi vaputin, 30/08/2011.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    GS Nguyễn Tài Cẩn - Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt
    Kỳ II: Lội ngược dòng hơn mười thế kỷ

    [​IMG]

    (Dân trí) - Tìm rõ cách đọc chữ Hán ở kinh đô Trường An (Trung Quốc) đời Đường, so sánh với hệ thống ngữ âm tiếng Việt thời ấy, để xác định cội rễ của cách đọc Hán-Việt và những biến đổi qua các thế kỷ sau của cách đọc ấy
    >> Kỳ I: Những câu hỏi "muôn năm cũ"


    Cách đọc Hán - Việt bắt nguồn từ đâu?

    Không chỉ các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, mà cả giới Đông phương học quốc tế cũng chú ý đến cách đọc Hán-Việt. Bởi vì, muốn nghiên cứu tiếng Hán trung đại, nghiên cứu cách đọc tiếng Hán ở Nhật Bản theo Go-On (Ngô âm) hay theo Kan-On (Hán âm), hoặc cách đọc tiếng Hán ở Triều Tiên theo cách đọc Hán-Triều, đều rất cần sự so sánh, viện dẫn cách đọc Hán-Việt, để rút ra những kiến giải.

    Cứ liệu lịch sử cho biết, ngay từ đời nhà Hán, một số Thái thú Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp đã bắt đầu truyền bá văn hóa Hán ở vùng Giao Chỉ, Cửu Chân. Sĩ Nhiếp (187-236 sau CN), Thái thú Giao Châu, mở trường dạy học tại Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh hiện nay), thu hút rất đông sĩ tử, được các sử gia người Việt thời sau suy tôn làm "Nam giao học tổ" (ông tổ việc học đất phương Nam).

    Gần đây, đền thờ và **** mộ Sĩ Nhiếp ở Luy Lâu được Nhà nước ta công nhận là di tích lịch sử - văn hóa.

    Nhưng phải đến đời Tùy-Đường thì trình độ Hán học ở Giao Châu mới có thể sánh với Trung Nguyên. Khương Công Phụ, người làng Cổ Hiểm, huyện Cửu Chân, Ái Châu (nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) đến Trường An (nay là Tây An, tỉnh Thiểm Tây), kinh đô nhà Đường, dự thi Hội, đỗ Tiến sĩ. Ông được Hoàng đế nhà Đường mời lưu lại Trường An, về sau, làm đến chức Tể tướng Trung Hoa, hiện vẫn còn lưu truyền bài phú Bạch vân chiếu xuân hải. Em trai ông là Khương Công Phục làm đến chức Lang trung Bộ Lễ, cũng ở Trường An.

    Các nhà Đông phương học hầu như nhất trí cho rằng cách đọc Hán-Việt hiện nay chính là bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán đời Đường (618-907 sau CN) tại kinh đô Trường An, từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán được dạy lần cuối cùng tại Giao Châu trước khi Việt Nam giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10.

    Từ thế kỷ thứ 10 đến nay, cách đọc Hán-Việt tuân theo quỹ đạo phát triển của tiếng Việt, không còn lệ thuộc vào những gì biến đổi trong ngữ âm tiếng Hán ở bên kia biên giới. Nhiều thế kỷ trôi qua, hai cách đọc chữ Hán của người Hán và của người Việt ngày càng khác xa nhau, đến mức một người uyên thâm Hán ngữ như Phan Bội Châu khi gặp Lương Khải Siêu ở Trung Quốc, chỉ có thể... bút đàm!

    Lớp từ Hán-Việt ngày càng lọt sâu vào kho từ vựng tiếng Việt, những nét xa lạ về mặt ngữ âm mất dần và rồi trở thành một bộ phận khăng khít - chứ không phải được "cấy ghép" - của hệ thống Việt ngữ.

    Kiến giải riêng từ hàng vạn trang sách

    Trên đây, để cho dễ lĩnh hội, tôi đã tóm lược những kết luận cuối cùng. Tất nhiên, trước khi đi đến những kết luận như thế, Nguyễn Tài Cẩn phải bỏ ra biết bao công sức! Chẳng hạn, nói rằng cách đọc Hán-Việt hiện nay là bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán đời nhà Đường ở Trường An, vậy thì, vào đời ấy, người Trung Hoa ở kinh đô của họ đọc chữ Hán ra sao? Tiếng Hán đời ấy có những phụ âm, những vần và những thanh điệu nào? Nếu sử dụng cách phiên âm quốc tế hiện nay để ghi lại, thì phải dùng những ký hiệu nào? Nhà khoa học không thể "phán" nếu thiếu luận cứ.

    Và nữa, cách đọc chữ Hán của người Việt hồi thế kỷ thứ 8-9 là như thế nào? Gồm những phụ âm, những vần và những thanh điệu nào? Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 20, cách đọc Hán-Việt đã biến đổi ra sao?

    Để trả lời những câu hỏi ấy, phải sử dụng những phương pháp hiện đại của ngữ âm học lịch sử mà, nếu trình bày trong bài báo này, thì sẽ đi quá sâu vào học thuật, sẽ phải sử dụng nhiều biểu bảng, nhiều chữ Hán, chữ Nôm, chữ Anh, chữ Pháp, chữ Nga, nhiều ký hiệu phiên âm quốc tế, rất khó in trên báo chí phổ thông và gây "đau đầu nhức óc" cho bạn đọc không chuyên.

    H. Maspéro đã viết bằng tiếng Pháp cuốn Tiếng địa phương Trường An đời Đường (Le dialecte de Tchang-an sous les Tang). B. Karlgren cũng viết bằng tiếng Pháp cuốn Khảo sát âm vị học tiếng Hán (études sur la phonologie chinoise). Đặc biệt, cuốn Thiết vận của nhóm Lục Pháp Ngôn ở Trường An đầu thế kỷ thứ 7 là tài liệu tham khảo quan trọng đối với Nguyễn Tài Cẩn.

    Đọc hàng vạn trang sách bằng các thứ chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật... về vấn đề liên quan, đưa ra thêm những luận cứ mới, những kiến giải riêng, Nguyễn Tài Cẩn đã soi rọi đến tận ngọn nguồn cách đọc Hán-Việt, một cách đọc đã giúp người Việt Nam dễ dàng tiếp nhận những tinh hoa của văn hóa Hán - một trong hai nền văn hóa lớn nhất phương Đông - mà không bị "Hán hóa".




    [​IMG]
    TS Nguyễn Tài Cẩn trong những năm làm việc tại Đại học Tổng hợp Leningrad (Liên Xô cũ)..


    "Chao ôi, thầy kỹ tính quá!"

    Chiều hôm ấy, trời lâm thâm mưa. Ông Trần Trí Dõi, Phó Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc ĐHQG Hà Nội) đưa chị Barbara Niedeer đến nhà GS Cẩn ở một ngõ nhỏ bên đường Hoàng Quốc Việt. Dép bê bết bùn, chị Barbara vừa bước vào nhà vừa vội vã nói:

    - Em sắp trở lại Paris. Em đã dịch xong cuốn sách của thầy ra tiếng Pháp. Mong thầy cho phép em đưa in bản dịch.

    - Cuốn nào thế nhỉ? GS Cẩn hỏi.

    - Cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt ạ! Trước kia, em chẳng chú ý mấy đến cuốn sách ấy. Nhưng thầy A. G. Haudricourt "bắt" em đọc! Đọc rồi, em mới cảm thấy hay. Và em quyết định phải dịch. Em nghĩ cuốn sách của thầy sẽ giúp ích nhiều cho các nhà Đông phương học trên thế giới, nếu họ có trong tay bản dịch tiếng Pháp...

    Barbara Niedeer viết luận án tiến sĩ về tiếng Hmông-Dao. Chị đã từng sống nửa năm trên bản Hmông cao chót vót. Là người Pháp gốc Thụy Sĩ, chị thông thạo các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, biết cả tiếng Trung Quốc, Việt, Hmông, Dao. Chị hiện làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS) và là học trò yêu của thầy A. G. Haudricourt, nhà Đông phương học nổi tiếng thế giới.

    - Tôi rất cảm ơn cô! Nhưng mong cô thông cảm cho: Gần đây, tôi nghe nói bên Mỹ vừa xuất bản cuốn A Handbook of Old Chinese Phonology (Sách chỉ dẫn về ngữ âm tiếng Hán cổ) của W. H. Baxter, dày tới 900 trang. Tất nhiên, đó là cuốn sách viết về tiếng Hán cổ, nhưng rất có thể có liên quan phần nào đến cách đọc Hán-Việt. Tôi cần tham khảo cuốn sách đó để, nếu cần, thì chỉnh lý đôi chút cuốn sách của mình cho cập nhật. Cô chịu khó chờ một thời gian nhé!

    - Chao ôi, thầy kỹ tính quá! - Barbara thất vọng kêu lên.

    "Giờ thì mình hết băn khoăn"

    Tháng 11/2001, tôi gặp lại GS Nguyễn Tài Cẩn tại Hà Nội sau một thời gian dài ông sống và làm việc cùng vợ tại Matxcơva. Vợ ông, GS N. V. Stankyevich, là một nhà ngôn ngữ học người Nga chuyên nghiên cứu tiếng Việt và tiếng Hán. Trước kia, bà sống và làm việc tại Việt Nam. Sau khi về hưu, do sức khỏe kém, bà trở về Nga. GS Cẩn theo vợ về bên ấy để tiện cho các con chăm sóc.

    Thấy tôi đến thăm, GS Cẩn đưa cho xem bản in thử cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán-Việt sắp tái bản. Phải nói rằng việc xử lý trên máy tính bản thảo cuốn sách này thật... quá ư phiền toái! Trong một câu văn, thường có cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán (phồn thể) và ký hiệu phiên âm quốc tế. Rồi, để cho dễ tra cứu, phải giữ nguyên dạng chữ Pháp, chữ Anh, chữ Đức, chữ Nga... ít ai dám nhận việc sửa bản in thử, ngoài tác giả!

    - Chắc bây giờ anh vui lòng để chị Barbara Niedeer đưa in bản dịch tiếng Pháp cuốn sách này rồi chứ? - Tôi hỏi.

    - Vừa rồi, mình đã đọc kỹ cuốn Sách chỉ dẫn ngữ âm tiếng Hán cổ của W. H. Baxter. Rồi đọc cả cuốn Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Hán cổ của nhà bác học Nga S. A. Starostin. Hai ông đưa ra một số luận điểm về ngữ âm tiếng Hán cổ mà mình rất thích. S. A. Starostin ghi là đã tham khảo sách của mình. W. H. Baxter cũng chủ trương Thiết vận có 8 nguyên âm như trong sách của mình. Giờ thì mình hết băn khoăn...

    - Thế anh đã trả lời chị Barbara chưa?

    - Mình sẽ gửi email cho cô ấy.

    Hàm Châu
  2. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    GS Nguyễn Tài Cẩn - Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt

    Kỳ cuối: Chúng ta sẽ rất thiếu những nhà Việt
    Nam học

    [​IMG]

    GS Nguyễn Tài Cẩn ở Nhật Bản

    (Dân trí) - Là người nhận diện họ hàng xa gần của tiếng Việt từ mấy nghìn năm trước cho đến tận hôm nay, ông cũng cảnh báo một ngày không xa, chúng ta sẽ rất thiếu những nhà Việt Nam học có tầm cỡ.


    Nghìn năm trước, tiếng Việt phát âm ra sao?
    Lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo) của Nguyễn Tài Cẩn, xuất bản năm 1995, là một cuốn sách trong "cụm công trình" được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Qua 350 trang sách, tác giả đã bước đầu trả lời câu hỏi nói trên.
    GS Cẩn và các học trò của ông đã vận dụng có phê phán phương pháp Swadesh, tức phương pháp ngữ thời học (grottochronology). Đó là phương pháp xuất phát từ quan niệm cho rằng, qua thời gian, việc thay thế từ vựng cơ bản cổ bằng từ vựng mới là một việc xẩy ra theo quy luật chung cho mọi ngôn ngữ. Nếu hai ngôn ngữ hay hai phương ngữ A, B cùng gốc tách nhau khoảng 1.000 năm, thì trong bảng từ vựng chúng chỉ còn giữ lại 74% là chung; nếu tách nhau 2.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chiếm khoảng 54%; tách nhau 4.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chỉ chiếm khoảng 30%.
    Ông khiêm tốn gọi cuốn giáo trình nói trên là "sơ thảo". Nhưng thật ra, đó là một công trình lớn, có tính chất mở đường. Để viết giáo trình ấy, ông đã phải tham khảo hàng trăm công trình nghiên cứu tiếng Việt, tiếng Mường và các ngôn ngữ bà con gần xa như các thứ tiếng: Nguồn, Pọng, Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, A-rem, Thà Vựng, Pakatan, Phon Soung, Khạ Phong...
    Nhận diện họ hàng gần xa của tiếng Việt
    Nếu hai ngôn ngữ hay hai phương ngữ A, B cùng gốc tách nhau khoảng 1.000 năm, thì trong bảng từ vựng chúng chỉ còn giữ lại 74% là chung; nếu tách nhau 2.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chiếm khoảng 54%; tách nhau 4.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chỉ chiếm khoảng 30%.
    Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học quốc tế gần như nhất trí: Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ Nam á, ngành Môn-Khmer, trong tiểu chi Việt-Chứt; quan hệ với tiếng Thái-Kadai dù khá xa xưa, quan hệ với tiếng Hán dù khá sâu đậm, nhưng đó vẫn chỉ là quan hệ tiếp xúc, chứ không phải họ hàng gần. Để có thể hình dung một "ngành" như ngành Môn-Khmer trong ngôn ngữ học phức tạp đến mức nào, ta có thể xem Từ điển Bách khoa Britannica III. Thì ra, trong "ngành" ấy, có hơn... 100 ngôn ngữ! GS G. Diffloth đã lập "bản đồ" về 100 ngôn ngữ đó.
    Tiểu chi Việt-Chứt là tiểu chi có đông người nói nhất trong ngành Môn-Khmer, chỉ tính riêng ở Việt Nam, vào thời điểm cuốn sách của Nguyễn Tài Cẩn được in, đã có hơn 60 triệu người. Trong khi ở tiểu chi Khmer chỉ có 7 triệu người; còn ở các tiểu chi khác, mỗi tiểu chi chưa đến 1 triệu người.
    Về ngữ âm tiếng Việt thế kỷ 17, cứ liệu Nguyễn Tài Cẩn sử dụng trước hết là cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum- Latinum) của Alexandre de Rhodes in năm 1651 ở Rome, Italy.
    Đi ngược lên thế kỷ 15-16, Nguyễn Tài Cẩn tham khảo tài liệu An Nam dịch ngữ, một danh sách hơn 700 mục từ tiếng Việt được người Trung Quốc dịch nghĩa và phiên âm qua chữ Hán để dùng trong ngoại giao.
    Ngược dòng thời gian xa hơn nữa, thì cứ liệu quan trọng nhất là hệ thống ngữ âm ở các vùng thổ ngữ Mường. Cách đây khoảng 1.200 năm, Việt và Mường cùng dùng chung một tiếng.
    Về tiếng Mường, TS Nguyễn Văn Tài, một cộng sự gần gũi của GS Nguyễn Tài Cẩn, đã dày công điều tra 29 thổ ngữ Mường và công bố trong luận án tiến sĩ năm 1983. 29 thổ ngữ đó được xếp vào 9 nhóm nằm rải rác tại các tỉnh Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, từ Mường Phong, Mường Thái, Mường Bi đến Giai Xuân, Tân Hợp, Sông Con, v.v. Cũng là tiếng Mường, nhưng người Mường vùng này gọi là con trâu con, thì vùng kia gọi là con nghé; vùng này gọi là chiêng, thì vùng kia gọi là cồng; vùng này gọi là chân, vùng kia gọi là giò... Cũng để chỉ một con vật như nhau, nhưng người Mường nhóm 6 gọi là con dải, trong khi người Mường nhóm 7 lại gọi là con ba ba. Cũng là một hành động như nhau, nhưng người Mường nhóm 8 gọi là chửi, trong khi người Mường nhóm 9 lại gọi là bới, v.v.
    Những nghiên cứu của GS Nguyễn Tài Cẩn và các học trò của ông như TS Nguyễn Văn Tài giúp cho những ai yêu tiếng Việt - trước hết là các nhà văn, nhà báo - hiểu tiếng Việt sâu xa hơn và, nhờ vậy, dùng tiếng Việt cẩn trọng hơn, chính xác hơn. Đọc cuốn sách ấy rồi, ít ai còn dám tự mãn nghĩ rằng mình đã hiểu đến tận ngọn nguồn tiếng mẹ đẻ!
    Kiếm tìm trong lịch sử xa xăm
    Ngược lên quá khứ xa xăm hơn nữa, khoảng 3.000 năm trước, chỗ dựa chủ yếu để nghiên cứu là các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở vùng núi khu Bốn như tiếng Sách, tiếng Rục, tiếng Mày, tiếng Mã Liềng, tiếng A-rem, và ở vùng bên kia biên giới Việt-Lào như tiếng Thà Vựng, tiếng Ahơ...
    So sánh tiếng Việt với tiếng A-rem hay tiếng Maleng, tức là những ngôn ngữ đã tách khỏi tiếng Việt cách đây 2.300-2.500 năm, ta sẽ biết trạng thái khi hai bên còn chung một ngôn ngữ: trạng thái từ 2.500 năm trở về trước.
    Căn cứ số liệu tính toán đã được công bố theo phương pháp ngữ thời học, thì tiểu chi Việt-Chứt tách khỏi Việt-Katu cách đây khoảng 4.000 năm. ở sơ kỳ của nó, tiểu chi Việt-Chứt chưa cách xa khỏi khối Katu bao nhiêu. Để nghiên cứu giai đoạn này, ta sẽ tìm cứ liệu ở các tiểu chi khác trong ngành Môn-Khmer.
    Rất nhiều tộc người thiểu số, sống ở đông và tây Trường Sơn, nói các thứ thổ ngữ "líu lo như chim hót", nghe rất lạ tai, hoá ra trong quá khứ xa xăm, họ đã từng nói cùng một thứ tiếng với người Việt!
    Còn về ảnh hưởng sâu xa của tiếng Hán đối với tiếng Việt thì, như ta đã biết, GS Cẩn đã có một cuốn sách chuyên khảo riêng.
    GS Cẩn cũng cẩn thận tìm lai nguyên của hệ thống phụ âm đầu (âm mũi, âm tắc, âm xát...), lai nguyên của các nguyên âm dòng trước (e, ê, i, iê), các nguyên âm dòng giữa (a, ă, ư, ơ, â, ươ), của hệ thống âm cuối (m/p, n/t, ng/c, u/o (w), i/y (j), và lai nguyên của âm đệm w. Rồi tìm lai nguyên của hệ thống thanh điệu (ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng).
    Ông phân tích, tổng hợp các kết quả thu thập được của các đồng nghiệp trong nước và nước ngoài để rút ra kết luận.
    Chẳng hạn, M. Ferlus không những nghiên cứu sâu về ngôn ngữ Tiền Việt-Mường (Vietnamien et Proto-Vietmuong, 1975), mà còn khảo sát cả phương ngữ Vinh (La dialecte vietnamien de Vinh, 1991)... M. E. Barker nghiên cứu các âm vị Mường (The Phonemes of Muong, 1968), các phụ âm cuối và nguyên âm Tiền Việt-Mường (Proto-Vietnamuong Final Consonants and Vowels, 1970)...
    Bao nhiêu bạn trẻ biết chữ Nôm?
    GS Mỹ Keith W. Taylor, nhà Việt Nam học nổi tiếng của Đại học Cornell (Mỹ), sang Hà Nội, nhờ GS Nguyễn Tài Cẩn dạy chữ Nôm cho. Chị Y. S. Wang viết luận án tiến sĩ về chữ Nôm. Còn chị Olga Dror thì lại viết luận án tiến sĩ về bà chúa Liễu Hạnh...
    Kỳ trước, tôi đã nhắc đến chị Barbara Niedeer viết luận án tiến sĩ về tiếng Hmông-Dao, rồi dịch cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán-Việt của Nguyễn Tài Cẩn ra tiếng Pháp.
    Mới đây nhất, trong hai ngày 11 và 12/4/2008, tại Đại học Temple (Mỹ), đã diễn ra Hội nghị Nôm học quốc tế để thông báo về những kết quả mới nhất trong việc nghiên cứu chữ Nôm. Đã 82 tuổi, GS Cẩn không sang dự được, mà chỉ gửi đi bản báo cáo: Một số vấn đề về ngành Nôm học. Ông cho biết, hiện nay, chúng ta có hai loại văn bản Nôm: loại đã được khắc in mộc bản và loại ở dạng chép tay. Ông muốn nói về loại thứ nhất, vì những cuộc tranh luận gần đây (như về Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Hoa tiên, v.v) đều liên quan đến loại này. Trong báo cáo đó, GS Cẩn thông báo về việc ông phát hiện một số chữ Nôm cổ còn giữ dấu vết kỵ huý đời Trần.
    Tuy nhiên, chúng tôi không định đi sâu hơn vào học thuật mà chỉ muốn lưu ý bạn đọc rằng: Chữ Nôm, văn tự cổ của Việt Nam, hiện đang được nhiều nước biết tới, trong khi ở nước ta thì sao? Đốt đuốc đi tìm cũng khó thấy những bạn trẻ nào còn đọc nổi!
    Rồi đây, sẽ có những bạn trẻ nào ở nước ta nuôi chí lớn kế tục sự nghiệp của các học giả lớp trước, dũng cảm bước vào ngành Nôm học hay rộng hơn Việt Nam học, Đông phương học như Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Hà Văn Tấn, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đức Từ Chi, Phan Huy Lê, Trần Đình Hượu...?
    Nếu Nhà nước ta không lo lắng, kịp thời thu hút và đào tạo những tài năng trẻ, thì e rằng không lâu nữa, chúng ta sẽ rất thiếu những nhà Việt Nam học có tầm cỡ!
    Tôi nhớ mãi điều nghịch lý mà GS Cẩn nói khi chia tay tôi, trở về với vợ con ông hiện đang sống ở Matxcơva.
    Hàm Châu
  3. CoDep

    CoDep Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/09/2004
    Bài viết:
    9.565
    Đã được thích:
    11
    Nhà Nước là một hệ thống, chứ không phải là một người.
    Nó không có tình cảm yêu dân tộc, yêu giống nòi.
    Làm sao đòi nó đào tạo người nghiên cứu tiếng Việt?
    *
    Ngày tôi còn trẻ, cách đây nửa thế kỷ, người ta còn
    nói "con hiêu" và "uống riệu" Âm Hiêu cũng có trong
    kho tàng Hán Việt. Bây giờ thì âm Hiêu, âm Riệu đã
    mất.
    *
  4. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đọc “Có 500 Năm Như Thế” của Hồ Trung Tú

    Thứ sáu, 01 Tháng 6 2012 00:00 Phạm Thị Hòa
    [​IMG] [​IMG]


    [​IMG]
    Andrea Hòa Phạm (Phạm Thị Hòa)
    Giáo Sư, Tiến sĩ Ngôn ngữ học, đại học Florida (Hoa Kỳ)
    Nhà văn, nhà báo Hồ Trung Tú đã mạnh dạn đưa ra công trình nghiên cứu tỉ mỉ về bản sắc văn hoá của người Quảng Nam và đất Quảng Nam trong mối tương quan chặt chẽ với văn hóa và con người Chăm pa.
    Cuốn “Có 500 Năm Như Thế” có hai phần chính. Phần thứ nhất viết về những chuyến di dân từ bắc miền Trung vào Quảng Nam và đến Phú Yên theo từng thời kỳ lịch sử quan trọng, qua đó tìm cách giải thích điều làm nên bản sắc người Quảng Nam. Phần thứ hai viết về giọng nói đặc trưng của người Quảng Nam, một giọng nói ‘không giống ai’.

    Trong cả hai phần, Hồ Trung Tú đều bộc lộ niềm say mê và tâm huyết đến nỗi nhiều ý đắc địa anh lập lại nhiều lần, như để chắc chắn rằng độc giả không bỏ sót các ý quan trọng đó.

    Thật dễ thấy thái độ làm việc nghiêm túc của anh qua những tìm kiếm công phu gia phả của nhiều thế hệ người địa phương, đặt những câu hỏi thiết tha và nghiêm chỉnh về cội nguồn của người xứ Quảng và tiếng nói của họ, nhiều câu trĩu nặng khắc khoải, như ‘Có thể tiếp thu cái gì ở mảnh đất trống không?’ để chứng minh rằng người Chàm đã không bỏ đi cả mà ở lại công cư hòa huyết với người Việt. Với công phu nghiên cứu nhiều năm ấy, ngoài các chi tiết về ăn mặc, búi tóc, hôn nhân... nếu tác giả có thể dành một phần xứng đáng nhắc đến bản sắc dân tộc của người Chàm như một tiền đề, nối với phần kết cái gì làm nên bản sắc ‘nhiều khi xa lạ như một người nước ngoài, khó nhọc diễn đạt ý tưởng, thô mộc trong ứng xử, chỉ lấy sự chân thành để bù đắp, lấy sự quyết liệt để thay thế cho sự tinh tế thị thành’ của người Quảng, thì sẽ giúp người đọc hiểu hơn điều tác giả muốn khẳng định. Cũng vậy, tuy không phải là cuốn sử nhưng vì phân tích sự kiện theo lối biên niên, người đọc sẽ dễ theo dõi hơn nếu phần kết có kèm bảng kê các năm với các sự kiện quan trọng đề cập trong công trình, như tác giả đã làm với phần các phương ngữ nhỏ hơn từ Quảng Nam đến Phú Yên.

    Cái quý của tác phẩm là dám đặt vấn đề theo một hướng mới, không ngại tránh lối mòn, không ngại ‘đẩy vấn đề thoát ra khỏi con số không’ như khi bàn về giọng Quảng.

    Hồ Trung Tú, trong khi không phải là nhà ngữ học, đã công phu tìm tòi và đưa ra nhiều nhận xét làm tiền đề cho lập luận của anh. Từ chỗ cho rằng người Quảng Nam mang trong mình huyết thống Chàm, tác giả đi đến kết luận mạnh dạn rằng lý do mà giọng Quảng Nam khác giọng các địa phương khác đến như vậy là vì ban đầu do người mẹ Chàm cố gắng nói tiếng Việt bằng giọng Chàm trong các gia đình vợ Chàm chồng Việt. Đặc biệt, Hồ Trung Tú đưa ra các đợt di dân lớn khác thời điểm, và dùng ranh giới địa lý (như sông Bà Rén) và vật chất (như lũy Trường Dục) để phân vùng các phương ngữ nhỏ hơn của giọng Quảng do các nhóm di dân bị cô lập nhiều đời.

    Trong khi cố gắng thuyết phục rằng giọng Quảng Nam là một hệ thống khác, là kết quả của việc người Chàm nói (phát âm) tiếng Việt, tác giả vẫn dùng giọng nói các địa phương khác làm ‘chuẩn’ để đổi chiếu. Vì nguyên âm a trong các giọng khác bị phát âm khác đi trong giọng Quảng, tác giả kết luận rằng giọng Quảng Nam không có nguyên âm a. Nếu nhìn giọng Quảng Nam như một thực thể toàn vẹn, có quy luật chặt chẽ và mang tính hệ thống, thì sẽ thấy rằng người Quảng Nam cũng có nguyên âm a như ai. Chỉ có điều nó xuất hiện ở nơi người bản ngữ không nghĩ tới, như cố giáo sư Cao Xuân Hạo đã nhắc đến trong thực nghiệm của ông, khi cho người nói giọng địa phương khác nghe người Quảng Nam phát âm chảy máu và ghi xuống, thì âm mà những người tham gia thực nghiệm “nghe thấy” và ghi xuống là chả má.* Nhưng vì sao từ âm A mà biến sang âm B chứ không phải C hay D, v.v... thì chứng cứ không đến từ suy luận mà thường phải qua các phản ứng nội tại của ngôn ngữ trong những hoàn cảnh ngôn ngữ nhất định (context-sensitive), hoặc từ chất liệu của các ngôn ngữ tham gia vào quá trình, như tác giả có gợi ý khi bàn về các đợt di dân muộn đến miền Nam trên đất Chân Lạp cũ.

    Sự hòa trộn (diffusion) các yếu tố ngôn ngữ là một quá trình mà trong đó sự đổi mới được phổ biến qua một kênh giao tiếp nào đó, trong một khoảng thời gian cần thiết, giữa các thành viên của một công đồng người (Rogers)**. Theo lý thuyết này, (âm thanh) ngôn ngữ biến đổi nhờ vào 4 yếu tố: sáng tạo, kênh giao tiếp, thời gian, và hệ thống xã hội (innovation, communication channels, time, social system). Ở trường hợp giọng Quảng Nam, rất có thể sự việc đã xảy ra như thế hoặc gần như thế. Thứ nhất là sự sáng tạo trong bắt chước cách phát âm. Thứ hai là nhu cầu giao tiếp giữa những người Việt di dân vào đất Chàm và cùng với người Chàm tạo thành kênh giao tiếp. Thứ ba là thời gian vài thế kỷ ấy đủ dài cho việc định hình yếu tố mới trong giao tiếp. Và cuối cùng hệ thống xã hội cần thiết để định hình yếu tố mới là hệ thống trong đó người Việt sống cộng cư với người Chàm trên dải đất mới. Nhưng đây cũng chỉ là suy luận để khởi đầu, như anh công nhận. Cần tìm ra mối liên quan giữa các yếu tố ngôn ngữ hoặc các yếu tố ngoài ngôn ngữ đã thúc đẩy giọng Quảng thay đổi, ‘đi xa’ đến thế so với giọng ban đầu của những người Việt di dân, để cho ra một hệ thống giọng nói như hiện nay, mà không phải là một hệ thống khác. Cái quan tâm trước hết của các nhà ngữ học không phải là vì sao nó thay đổi, mà thay đổi như thế nào. Cho nên có những người như Hồ Trung Tú cố gắng tìm giải đáp cho câu hỏi ‘vì sao’ là đóng góp đáng quý.

    Chưa biết điều khẳng định ‘Mỹ Sơn chính là di sản tổ tiên ta để lại’ đúng đến đâu nhưng chắc chắn làm người đọc cảm động và cảm phục. “Có 500 Năm Như Thế” là một bằng chứng đẹp về cái thao thức bất tận trong việc đi tìm sự thật, bằng một thái độ viết tâm huyết, nghiêm túc, được nâng đỡ bởi một tâm hồn lãng mạn, bay bổng.

    Andrea Hòa Phạm

    * Cao Xuân Hạo. 1998. Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ ở tỉnh Quảng Nam. Trong Tiếng Việt Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, tr. 128-136. TP Hồ Chí Minh: NXB Giáo Dục.


    **Rogers, Everett M. 1995. Diffusion of Innovations. 4th ed. New York: Free Press (MacMillan).


    Về tác giả bài viết:

    Andrea Hoa Pham, Ph.D.
    Associate Professor
    Department of Languages, Literatures & Cultures
    University of Florida
  5. 12345tqc

    12345tqc Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    19/10/2016
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Tôi không đồng ý với các nhà khoa học trong vqf ngoài nước cho rằng tiếng Việt có cùng nhánh gốc gác với Môn Khơ me:
    1- Về các từ vựng cơ bản giống nhau: tôi thấy quá ít giống nhau, số đếm tiếng khiw me có đến 5 mà Việt đến 10 sao gọi là giống nhau. Số đếm cũng là từ có thể vay mượn mà ko chung nguồn gốc. Còn các từ khác mà các nhà khoa học liệt kê chẳng thấy giống chút nào.
    2. Về thanh điệu: Môn khơ me ko có, tiếng Việt có 6 thanh. Các nhà khoa học cho rằng tiếng Việt cổ ko có thanh điệu, sau này giao tiếp với hệ tiếng Thái, Hán thì mình mới có thanh điệu. Đây cũng là điều vô lý vì tiếng Thái chỉ có 5 thanh, tiếng Hán chỉ có 4 thanh mà tiếng mình 6 thanh, vậy nếu ta ảnh hưởng vêd thanh điệu thì chỉ có thể số thanh điệu cao nhất bằng của họ mà ko thể hơn.
    3. Về địa lý. Ngôn ngữ muốn có chung gốc thì về địa lý các tộc người họ phải sống ở cạnh nhau, gần nhau. Nhìn lại lịch sử 4000 năm của người Việt thì ta thấy người Viẹt, Khơ me, Môn là sống cách biệt. Giữa các dân tộc này có nhiều dân tộc khác nằm ngăn cách. Do vậy nếu có chung gốc hoặc ảnh hưởng lẫn nhau thì phải là của các dân tộc cạnh nhau như Thái, Việt.
    Ngoài ra trong truyền thuyết, các dân tộc vùng bách Việt mà đại diện là hệ Thái, Việt là chủ yếu nằm trong vùng này, ko có 1 tý nào của dân tộc Môn, Khơ me.
    Vậy nên khi xét về hệ ngữ cần phải xét nhiều yếu tố bổ trợ cho nhau, và phải có phương pháp phản biện.

Chia sẻ trang này