1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Sài gòn năm xưa

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi vaputin, 26/05/2012.

  1. 2 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 2)
  1. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    [FONT=&quot]SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Ngọc Quang [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội.... luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau. [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp. [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa,[/FONT] [FONT=&quot]sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay[/FONT], [FONT=&quot]đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : "nhờ vậy" mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ[/FONT] [FONT=&quot]những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách. [/FONT]
    [FONT=&quot]Sau khi "chạy giặc" hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ "Huyện Sỹ" đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet. [/FONT]
    [FONT=&quot]Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. [/FONT]
    [FONT=&quot]Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frères Guillerault (có chữ "S" sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp. [/FONT]
    [FONT=&quot]Trong lúc "tản cư" tôi đi học lớp chót trường làng tại quận[/FONT] [FONT=&quot]Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp "Douzième" trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi."Trường Chasseloup" xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ "Toà Tân Đáo" (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su ! [/FONT]
    [FONT=&quot]Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ. [/FONT]
    [FONT=&quot]Như vậy tôi thuộc vào thành phần "Nam Kỳ chánh cống" và "dân Sài Gòn một trăm phần trăm", lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc "Bắc trước năm mươi tư" mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị "tây hóa" nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt [/FONT]
    [FONT=&quot]tên[/FONT][FONT=&quot] đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa… [/FONT]
    [FONT=&quot]Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, "Chú Ba Xích Lô" mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ). [/FONT]
    [FONT=&quot]Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn "Bờ Rô" để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm.[/FONT][FONT=&quot] Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ "préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông "Moreau", tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là "vườn Ông Thượng", có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. Dưới thời Pháp thuộc vườn "Bờ Rô" nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss ****ll được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên "Ông Thượng" là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là "vườn Bờ Rổ", sau nầy mang tên vườn Tao Đàn. [/FONT]
    [FONT=&quot]Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, [/FONT]
    [FONT=&quot]từ[/FONT][FONT=&quot] đường 11è R.I.C (Régiment d'Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự. [/FONT]
    [FONT=&quot]Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau.[/FONT][FONT=&quot] Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam[/FONT][FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào *********) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh. [/FONT]
    [FONT=&quot]Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes [/FONT]
    [FONT=&quot]người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo "Kinh Tàu" (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy). [/FONT]
    [FONT=&quot] Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một "đứa con" của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d'Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau "Mả Lá Gẫm", đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến. [/FONT]
    [FONT=&quot]Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss ****ll với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay ****l : E***h ****ll là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Mé***erranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).[/FONT]
    [FONT=&quot]Rồi cứ đi theo mãi đường d'Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của[/FONT][FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin [/FONT]
    [FONT=&quot]des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức. [/FONT]
    [FONT=&quot]Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là "Kinh Lớn" hay "Kinh Charner" đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp[/FONT][FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi "đường Kinh Lấp" thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là "Bùng Binh" trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur. [/FONT]
    [FONT=&quot]Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền "Le Catinat" lấy [/FONT]
    [FONT=&quot]tên[/FONT][FONT=&quot] của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều "Ông Tây" ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố[FONT=&quot].[/FONT] Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước "Nhà Hát Tây", cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường "Keo Su" dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông "Cha Cả" hay Evêque d'Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay "Hồ Con Rùa". [/FONT]
    [FONT=&quot]Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là "xe lửa giữa" vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ "e" chớ không phải với chữ "é" vì là người gốc Ý Đại Lợi. [/FONT]
    [FONT=&quot]Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm "Le Jaccario" đậu gần đó trên "Kinh Tàu" hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des [/FONT]
    [FONT=&quot]Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu. [/FONT]
    [FONT=&quot]Lúc còn ở đường[/FONT] [FONT=&quot]Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn "giàn thun" trên mấy cây soài nên bị "Ông Từ" rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt "Ánh". Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học "trường tây" nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo "Nữ Giới Chung" cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ? [/FONT]
    [FONT=&quot]Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì "Mì La Cai", đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà "Chú Hoả" cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả. [/FONT]
    [FONT=&quot]Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi [/FONT]
    [FONT=&quot]và[/FONT][FONT=&quot] quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng. [/FONT]
    [FONT=&quot]Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt[/FONT][FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]và chánh quyền bảo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài "Sử Gia" buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng "Tả Quân Lê Văn Duyệt", đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục. [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 [/FONT]
    [FONT=&quot]người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi. [/FONT]
    [FONT=&quot]Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn. [/FONT]
    [FONT=&quot]Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng "Lăng Cha Cả", có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam[/FONT][FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot]biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d'Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa ************* đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn "ở Gia Định" vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 "Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine" và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cương … [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước [/FONT]
    [FONT=&quot]nền[/FONT][FONT=&quot] văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử. [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] -------------------------------- [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
  2. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    [FONT=&quot][/FONT] [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Những tên đường Sài Gòn trong bài theo thời cuộc [/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Thời pháp thuộc [/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot]Sau 1954 [/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot]Sau 1975 [/FONT][FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot]Albert Premier [/FONT]
    [FONT=&quot]Đinh Tiên Hoàng [/FONT]
    [FONT=&quot]Đinh Tiên Hoàng [/FONT]
    [FONT=&quot]Amiral Roze [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Công Định [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Định [/FONT]
    [FONT=&quot]Armand Rousseau, Jean-Jacques Rousseau [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Hoàng Quân [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Chí Thanh [/FONT]
    [FONT=&quot]Arras [/FONT]
    [FONT=&quot]Cống Qùynh [/FONT]
    [FONT=&quot]Cống Qùynh [/FONT]
    [FONT=&quot]Aviateur Garros, Rolland Garros [/FONT]
    [FONT=&quot]Thủ Khoa Huân [/FONT]
    [FONT=&quot]Thủ Khoa Huân [/FONT]
    [FONT=&quot]Barbé [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Qúy Đôn [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Qúy Đôn [/FONT]
    [FONT=&quot]Blancsubé, rue Catinat prolongée [/FONT]
    [FONT=&quot]Duy Tân [/FONT]
    [FONT=&quot]Phạm Ngọc Thạch [/FONT]
    [FONT=&quot]Bonard [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Lợi [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Lợi [/FONT]
    [FONT=&quot]Carabelli [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Thiệp [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Thiệp [/FONT]
    [FONT=&quot]Catinat [/FONT]
    [FONT=&quot]Tư Do [/FONT]
    [FONT=&quot]Đồng Khởi [/FONT]
    [FONT=&quot]Champagne [/FONT]
    [FONT=&quot]Yên Đỗ [/FONT]
    [FONT=&quot]Lý Chính Thắng [/FONT]
    [FONT=&quot]Charner [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Huệ [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Huệ [/FONT]
    [FONT=&quot]Chasseloup Laubat [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồng Thập Tự [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Thi Minh Khai [/FONT]
    [FONT=&quot]Chemin des Dames [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Phi [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Anh Xuân [/FONT]
    [FONT=&quot]Colonel Boudonnet [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Lai [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Lai [/FONT]
    [FONT=&quot]Dixmude [/FONT]
    [FONT=&quot]Đề Thám [/FONT]
    [FONT=&quot]Đề Thám [/FONT]
    [FONT=&quot]Đỗ Hữu Vị, Hamelin [/FONT]
    [FONT=&quot]Huỳnh Thúc Kháng [/FONT]
    [FONT=&quot]Huỳnh Thúc Kháng [/FONT]

    [FONT=&quot]Douaumont [/FONT]
    [FONT=&quot]Cô Giang [/FONT]
    [FONT=&quot]Cô Giang [/FONT]
    [FONT=&quot]Ducos [/FONT]
    [FONT=&quot]Triệu Đà [/FONT]
    [FONT=&quot]Ngô Quyền [/FONT]
    [FONT=&quot]Duranton [/FONT]
    [FONT=&quot]Bùi Thị Xuân [/FONT]
    [FONT=&quot]Bùi Thị Xuân [/FONT]
    [FONT=&quot]Espagne [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Thánh Tôn [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Thánh Tôn [/FONT]
    [FONT=&quot]Eyriaud Des Vergnes [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Minh Giảng [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Quốc Thảo [/FONT]
    [FONT=&quot]Frédéric Drouhet [/FONT]
    [FONT=&quot]Hùng Vương [/FONT]
    [FONT=&quot]Hùng Vương [/FONT]
    [FONT=&quot]Frère Louis [/FONT]
    [FONT=&quot]Võ Tánh [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Trãi [/FONT]
    [FONT=&quot]Frères Guillerault [/FONT]
    [FONT=&quot]Bùi Chu [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôn Thất Tùng [/FONT]
    [FONT=&quot]Gallieni, rue des Marins [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Hưng Đạo 1, Trần Hưng Đạo 2 [/FONT]
    [FONT=&quot]Garcerie [/FONT]
    [FONT=&quot]Duy Tân [/FONT]
    [FONT=&quot]Phạm Ngọc Thạch [/FONT]
    [FONT=&quot]Général Lizé [/FONT]
    [FONT=&quot]Phan Thanh Giản [/FONT]
    [FONT=&quot]Điện Biên Phủ [/FONT]
    [FONT=&quot]Georges Guynemer [/FONT]
    [FONT=&quot]Võ Di Nguy [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồ Tùng Mậu [/FONT]
    [FONT=&quot]Huỳnh Quan Tiên [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồ Hảo Hớn [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồ Hảo Hớn [/FONT]
    [FONT=&quot]Jaccario [/FONT]
    [FONT=&quot]Tản Đà [/FONT]
    [FONT=&quot]Tản Đà [/FONT]
    [FONT=&quot]Jauréguiberry [/FONT]
    [FONT=&quot]Ngô Thời Nhiệm [/FONT]
    [FONT=&quot]Ngô Thời Nhiệm [/FONT]
    [FONT=&quot]La Grandière [/FONT]
    [FONT=&quot]Gia Long [/FONT]
    [FONT=&quot]Lý Tự Trọng [/FONT]
    [FONT=&quot]Lacaze [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Tri Phương [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Tri Phương [/FONT]
    [FONT=&quot]Lacote [/FONT]
    [FONT=&quot]Phạm Hồng Thái [/FONT]
    [FONT=&quot]Phạm Hồng Thái [/FONT]
    [FONT=&quot]Larégnère [/FONT]
    [FONT=&quot]Đoàn Thị Điểm [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Định [/FONT]
    [FONT=&quot]Legrand De La Liraye [/FONT]
    [FONT=&quot]Phan Thanh Giản [/FONT]
    [FONT=&quot]Điện Biên Phủ [/FONT]
    [FONT=&quot]Léon Combes [/FONT]
    [FONT=&quot]Sương Nguyệt Ánh [/FONT]
    [FONT=&quot]Sương Nguyệt Anh [/FONT]
    [FONT=&quot]Mac Mahon, De Lattre De Tassigny, Gal De Gaulle [/FONT]
    [FONT=&quot]Công Lý [/FONT]
    [FONT=&quot]Nam Kỳ khởi nghĩa [/FONT]
    [FONT=&quot]Marins [/FONT]
    [FONT=&quot]Đồng Khánh [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Hưng Đạo 2 [/FONT]
    [FONT=&quot]Miss ****ll [/FONT]
    [FONT=&quot]Huyền Trân Công Chúa [/FONT]
    [FONT=&quot]Huyền Trân Công Chúa [/FONT]
    [FONT=&quot]Nancy [/FONT]
    [FONT=&quot]Cộng Hòa [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Cừ [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Tấn Nghiệm, rue de Cầu Kho [/FONT]
    [FONT=&quot]Phát Diệm [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Đình Xu [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Đưởm [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Đưởm [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Nghĩa [/FONT]
    [FONT=&quot]Ohier [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôn Thất Thiệp [/FONT]
    [FONT=&quot]Tôn Thất Thiệp [/FONT]
    [FONT=&quot]Paul Blanchy [/FONT]
    [FONT=&quot]Hai Bà Trưng [/FONT]
    [FONT=&quot]Hai Bà Trưng [/FONT]
    [FONT=&quot]Pavie, Hui Bôn Hoả [/FONT]
    [FONT=&quot]Lý Thái Tổ [/FONT]
    [FONT=&quot]Lý Thái Tổ [/FONT]
    [FONT=&quot]Pellerin [/FONT]
    [FONT=&quot]Pasteur [/FONT]
    [FONT=&quot]Pasteur [/FONT]
    [FONT=&quot]Phan Thanh Giản [/FONT]
    [FONT=&quot]Ngô Tùng Châu [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Thị Riêng [/FONT]
    [FONT=&quot]Pierre Flandin [/FONT]
    [FONT=&quot]Bà Huyện Thanh Quan [/FONT]
    [FONT=&quot]Bà Huyện Thanh Quan [/FONT]
    [FONT=&quot]Pierre Pasquier [/FONT]
    [FONT=&quot]Minh Mạng [/FONT]
    [FONT=&quot]Ngô Gia Tự [/FONT]
    [FONT=&quot]Place Eugène Cuniac [/FONT]
    [FONT=&quot]C.Trường Quách Thị Trang [/FONT]
    [FONT=&quot]C.Trường Quách Thị Trang [/FONT]
    [FONT=&quot]Place Maréchal Joffre [/FONT]
    [FONT=&quot]Công Trường Quốc Tế [/FONT]
    [FONT=&quot]Hồ con Rùa [/FONT]
    [FONT=&quot]Richaud [/FONT]
    [FONT=&quot]Phan Đình Phùng [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Đình Chiểu [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot]Somme [/FONT]
    [FONT=&quot]Hàm Nghi [/FONT]
    [FONT=&quot]Hàm Nghi [/FONT]
    [FONT=&quot]Testard [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Qúy Cáp [/FONT]
    [FONT=&quot]Võ Văn Tần [/FONT]
    [FONT=&quot]Thévenet [/FONT]
    [FONT=&quot]Tú Xương [/FONT]
    [FONT=&quot]Tú Xương [/FONT]
    [FONT=&quot]Tổng Đốc Phương [/FONT]
    [FONT=&quot]Tổng Đốc Phương [/FONT]
    [FONT=&quot]Châu Văn Liêm [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Minh Ký, Lacant [/FONT]
    [FONT=&quot]Trương Minh Ký [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Thị Diệu [/FONT]
    [FONT=&quot]Verdun,Thái Lập Thành, Gal Chanson,Nguyễn Văn Thinh [/FONT]
    [FONT=&quot]Lê Văn Duyệt [/FONT]
    [FONT=&quot]Cách mạng tháng 8 [/FONT]
    [FONT=&quot]Ypres [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Tráng [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Văn Tráng [/FONT]
    [FONT=&quot]11è R.I.C. [/FONT]
    [FONT=&quot]Nguyễn Hoàng [/FONT]
    [FONT=&quot]Trần Phú [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]



    BS Trần Ngọc Quang
    [FONT=&quot][/FONT]
    [FONT=&quot] [/FONT]
  3. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Những hình ảnh do nhiếp ảnh gia Anh John Thomson thực hiện trong thập niên 1860 cho thấy một diện mạo còn rất hoang sơ của Sài Gòn...

    Hình ảnh được đăng tải trên website của Thư viện Wellcome, London, Anh quốc.


    [​IMG]
    [​IMG]
    Khu vực thương cảng ở Sài Gòn, với Nhà Rồng (ngày nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh) đang được xây dựng. Hình ảnh được đăng tải trên website của Thư viện Wellcome, London, Anh quốc.


    [​IMG]
    Khu phố mới hình thành gần thương cảng Sài Gòn.

    [​IMG]
    Kênh Bến Nghé, nơi tập trung người Hoa sinh sống ở vùng Chợ Lớn.

    [​IMG]
    Lăng Cha Cả ở Sài Gòn.

    [​IMG]
    Đường đến Lăng Cha Cả, nay là đường Hoàng Văn Thụ.

    [​IMG]
    Mồ mả trên một cánh đồng.

    [​IMG]
    Ngôi mộ của Bá Đa Lộc.

    [​IMG]
    Ngoại ô Sài Gòn.

    [​IMG]
    Nhà lá bên sông ở Nam Kỳ.

    [​IMG]
    Bên một đường làng ở Nam Kỳ.

    [​IMG]
    Vườn tược ở Nam Kỳ.

    [​IMG]
    Một con đường đất ở xóm làng ngoại vi Sài Gòn.

    [​IMG]
    Những gian nhà bên hồ.

    [​IMG]
    Những đóa hoa bìm bìm.

    [​IMG]
    Cây cối um tùm.

    Theo KIẾN THỨC
  4. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Cholon - une Rue (Vietnam) - années 20



    [​IMG]

    [​IMG]

    Saïgon - la Cathédrale (Vietnam) - années 20



    [​IMG]

    [​IMG]

    Saïgon - Jeune Indochinoise (Vietnam) - années 20



    [​IMG]

    Indochine - Paysan et ses boeufs (Vietnam) - années 20



    [​IMG]

    Cuisinière, Conghaï et Enfant français - Saïgon en 1927 (Vietnam)



    [​IMG]

    Maison et intérieur de Colons - Saïgon en 1927 (Vietnam)



    [​IMG]

    [​IMG]



    La Traversée de la Rivière à Saïgon (Vietnam) - années 20



    [​IMG]

    Boulevard Bornand à Saïgon (Vietnam) - années 20

    [​IMG]

    Intérieur indochinois à Saïgon (Vietnam) - septembre 1928



    [​IMG]

    Colons à Can Giuoc (Canghioc) (Vietnam) - le 3 sept. 1929 un Dimanche après-midi



    [​IMG]

    Colons sur la Route de Phan Tret (Phantret) - Annam (Vietnam) - en Octobre 1929





    [​IMG]
    ----------------------------- Tự động gộp bài viết ---------------------------
    Horticulteur et amies sous le Kiosque du Jardin Botanique de Saïgon (Vietnam) - années 20



    [​IMG]
  5. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Họ Chú Hỏa, tên Quách Đàm

    14/07/2013 17:10 (GMT + 7)


    TTCT - Nửa đầu thế kỷ trước, ở Sài Gòn - Chợ Lớn làm ăn, Huỳnh Văn Hoa và Quách Diệm được thương giới nghiêng mình nể phục, liệt vào hạng thượng thừa “Bạch thủ thành gia” (tay trắng nên nhà).
    [​IMG] Nhà Chú Hỏa - Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM hiện nay - do ông Huỳnh Văn Hoa xây xong năm 1934 - Ảnh: Minh Đức


    Tin bài liên quan




    Chia sẻ

    Lưu lại In bài Gửi cho bạn bè Facebook Yahoo Twiter Google Zing Me
    Từ khóa

    Chú Hỏa, Quách Đàm, Huỳnh Văn Hoa, Quách Diệm, Jean Baptiste Hui Bon Hoa

    Tin bài khác




    Khách sạn Majestic, Bảo tàng Mỹ thuật hay chợ Bình Tây mà nay còn thấy chỉ là một phần nhỏ trong thành tựu kinh doanh của họ. Thật trớ trêu là họ và tên hai đại gia này trước giờ bị gọi sai bét!

    Chú Hỏa, họ và tên
    Người Sài Gòn nhiều thế hệ vẫn hay nhắc đến nhân vật “Chú Hỏa” - một trong tứ đại hào phú lừng lẫy của Sài Gòn xưa mà dân gian đúc kết “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa” (*) với những giai thoại ly kỳ cả về tài sản và đời riêng.
    Hiện nay, tại tòa nhà tiêu biểu của “Chú Hỏa” - nơi đang là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (số 97 Phó Đức Chính), ở tấm biển inox ghi lược sử tòa nhà đặt trang trọng ngay lối đi bên trái cửa chính viết: “Hui Bon Hoa tên thật là Hứa Bổn Hòa”. Cách xác định Hui Bon Hoa là Hứa Bổn Hòa cũng thấy trên Wikipedia và rất nhiều bài viết.
    Thế nhưng hồi năm 1960, ông già bác cổ Vương Hồng Sển đã tỏ ra cẩn thận khi viết trong Sài Gòn năm xưa: “Hui Bon Hoa, tục danh “Chú Hỏa”, mặc dầu về sau danh vọng lớn, địa vị cao, cũng không ai gọi “Ông Hỏa” bao giờ. Sớm nhập Pháp tịch nên ký âm theo Pháp ngữ làm vậy rồi gọi như vậy cho đến đời đời, không rõ theo Hán tự hà danh hà tánh?” (bản in 1997, tr.284).
    Xưa hơn nữa là hồi năm 1924, Đào Trinh Nhất viết: “Trong bọn Hoa kiều bây giờ, duy chỉ có Hoàng Trọng Tán là giàu nhất, tư bản có đến 3.000 vạn, trong Nam kỳ đã suy tôn lên làm ông vua tiền bạc, hay là ông vua nhà cửa, vì Hoàng có nhiều nhà cửa đất cát lắm”. Hoàng (Huỳnh) Trọng Tán là con thứ ba của Chú Hỏa, là người kế nghiệp lãnh đạo Công ty Hui Bon Hoa. Hồi ấy, Đào Trinh Nhất đã gọi đúng họ (Hoàng/Huỳnh) của gia tộc này nhưng do không gắn kết mối liên hệ cha con giữa Chú Hỏa với Huỳnh Trọng Tán nên người sau không lưu ý.
    Phần viết về Hoa kiều Việt Nam trong Hoa kiều chí cho biết Hui Bon Hoa tên chữ Hán là Huỳnh Văn Hoa (). Họ Huỳnh cũng có thể đọc/viết là Hoàng, nhưng theo thói quen của người Hoa ở miền Nam, khi tự phiên âm họ này sang chữ Việt thì người ta đều viết là Huỳnh.
    Hui Bon Hoa là cách phiên âm từ tên gốc Hán theo âm Hạ Môn (Trung Quốc) có ảnh hưởng bởi cách phiên âm của người Anh vào cuối thế kỷ 19. Còn Hứa Bổn Hòa là cách đoán mò của người Việt khi nhìn thấy chữ Hui Bon Hoa mà không thấy mặt chữ Hán, thêm câu chuyện mê tín “Con ma nhà họ Hứa” không biết nguồn cơn ra sao lại xuất phát từ nhà cũ của Chú Hỏa rồi lan truyền khắp Sài thành khiến nhiều người tin chắc ông này họ Hứa.
    Lược sử một số cơ sở phúc lợi của cộng đồng người Hoa ghi nhận hai anh em Trọng Huấn và Trọng Tán là sáng lập viên của nhiều nơi, tiêu biểu như Phước Thiện y viện (nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi), Thành Chí học hiệu (nay là Trường THCS Minh Đức, đường Nguyễn Thái Học, Q.1), hiến đất xây Bệnh viện Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện phụ sản Từ Dũ), chùa Phụng Sơn (đường Nguyễn Công Trứ, Q.1).
    Đầu thế kỷ 20, người con thứ hai của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Huấn trở về Hạ Môn (Trung Quốc) mở Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường (). Khu nhà trụ sở công ty này ngày nay là một trong 10 di tích kiến trúc danh tiếng ở đảo Cổ Lãng, năm 2002 được liệt hạng di tích lịch sử kiến trúc trọng điểm của thành phố Hạ Môn, vừa là trường biểu diễn nghệ thuật, vừa là địa chỉ du lịch, phong cách xây dựng gần giống Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.
    Hồi tháng 5-2009, một đoàn công tác điền dã từ quê hương “Chú Hỏa” gồm các nghiên cứu viên thuộc Học hội lịch sử Hoa kiều và Bảo tàng lịch sử Hoa kiều Tuyền Châu đã đến Sài Gòn, thăm Bảo tàng Mỹ thuật và nhiều di tích kiến trúc khác cùng khu mộ gia tộc Huỳnh Văn Hoa ở Bình Dương. Mục đích của đoàn công tác này là nhằm thu thập tư liệu để bổ sung cho các hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật có liên quan gia tộc Huỳnh Văn Hoa ở Hạ Môn, Tuyền Châu, một mặt nhằm phục vụ các nghiên cứu về lịch sử Hoa kiều.
    Tên thật của Quách Đàm
    Cũng tương tự những lầm lẫn trong tên gọi “Chú Hỏa”, ông Quách Đàm - người mà nay bức tượng vẫn được đặt ở chợ Bình Tây (Q.6) - lại không phải tên là Đàm. Tên thật ông này là Diệm (cũng đọc Diễm).
    Về sự lầm lẫn này có thể từ một trong hai nguyên nhân: một là nhìn lầm mặt chữ, có thể là do người Việt đầu tiên đã sơ ý nhìn chữ Diệm ra chữ Đàm rồi phiên âm sai, vì chữ Diệm dễ lầm với mấy chữ Đàm như sau: (đàm, viết lối hành thư), (đàm), (đàm), (đàm); hai là nghe lầm âm, việc này có thể do người Pháp ký âm và viết tên Quách Diệm là Quach Dam (Quach-dam) bởi nghe người Triều Châu phát âm Diệm là “iam”, gần như âm Đàm.
    Trên những văn bản chữ Hán do các học giả Hoa kiều ở Chợ Lớn như Lý Văn Hùng, Thi Đạt Chí... viết trong khoảng 1950-1960 đều viết Quách Diệm, trong Hoa kiều chí - Việt Nam (Đài Bắc, 1958) và Quảng Đông tỉnh chí - Hoa kiều chí (1996) đều viết tên là Diệm, tiểu sử nhân vật này trong các sách kể trên đều không nói Quách Diệm còn có tên khác là Đàm.
    Kẹt một nỗi là tên Quách Đàm đã trở nên rất phổ biến, từ cửa miệng cho đến tất cả các bài viết bằng tiếng Việt gần 70 năm qua, đến như Tsai Maw Kuey trong luận văn bằng Pháp ngữ Les Chinois au Sud-Vietnam (1968) cũng viết tên người này theo chữ Việt là “Quách - Đàm” (tr.37, tr.283). Gần đây, trong một nghiên cứu về Đồng Minh Hội, Thomas Engelbert cũng viết tên hai nhân vật Quách Đàm và Hứa Bổn Hòa bằng chữ Việt, điểm sai này có lẽ do tác giả chủ quan khi tham khảo tài liệu tiếng Việt.
    Vấn đề điều chỉnh tên riêng Quách Đàm cho đúng là Quách Diệm coi ra phức tạp hơn tên Huỳnh Văn Hoa rất nhiều, bởi trước giờ nhân vật này chỉ được người Việt biết đến chỉ độc nhất một cái tên, bao nhiêu bài viết, bài nghiên cứu đã ghi nhận, bây giờ sửa lại thành ra lạ lẫm.
    Cách xử lý vấn đề này của ban biên tập công trình Southeast Asian Personalities of Chinese Descent - A Biographical Dictionary khá linh hoạt và đáng để chúng ta tham khảo, khi tác giả Việt Nam gửi phần viết về Quách Đàm, người biên tập vẫn giữ vậy và ghi tiêu đề là Quách Đàm, nhưng phần tên chữ Hán lại viết (Guo Yan/Quách Diệm), và chú thêm “also known as Quách Đàm” (còn được biết với tên Quách Đàm), đây là cách chấp nhận sai lầm một khi sự sai lầm đã trở thành thói quen và ảnh hưởng rộng đến xã hội.
    Viết sai tên người bình thường đã là chuyện rất vô duyên, Quách Diệm và Huỳnh Văn Hoa lại thuộc hàng có tên có tiếng mà sự nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử kinh tế và văn hóa vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
    Mặt khác, họ là những nhân vật thường xuyên được nhắc đến bởi các học giả nước ngoài nghiên cứu lĩnh vực Hoa kiều Đông Nam Á, việc ghi sai tên họ đối tượng dẫn đến tình trạng “từ khóa” (keyword) trong nghiên cứu bất thông, đương nhiên sẽ cản trở học giới trong nước tiếp cận và khai thác những vấn đề hoặc thành tựu nghiên cứu mới.
    Các quan hệ giao lưu văn hóa trên bình diện quốc tế ngày càng mở rộng, việc ghi sai họ tên của một nhân vật lịch sử gần đây phần nào sẽ ảnh hưởng đến bộ mặt văn hóa - du lịch của một thành phố lớn.
    PHẠM HOÀNG QUÂN

    Chú Hỏa tên Tây là Jean Baptiste Hui Bon Hoa, tên thật là Huỳnh Văn Hoa (1848-1901), còn có tên Tú Vinh, hiệu Tình Nham, nguyên tịch Hạ Môn, Phước Kiến. Tuổi thanh niên sang Sài Gòn làm công cho hiệu buôn, sau hùn hạp một số thương vụ, lần hồi tích góp được số tiền vốn mở riêng tiệm cầm đồ bình dân, sau nhờ quan hệ với những người Pháp có thế lực mới mở thêm việc mua bán nhà đất.
    Trở thành đại phú gia, thành lập Công ty Hui Bon Hoa, tài sản của công ty ở Sài Gòn - Chợ Lớn ước khoảng 30.000 căn nhà phố, 13 tiệm cầm đồ. Huỳnh Văn Hoa có 4 con trai, 11 con gái. Sau Thế chiến thứ nhất, Công ty Hui Bon Hoa lần lượt mở chi nhánh tại Hạ Môn, Thượng Hải, Hong Kong, Đài Loan.
    Sau Thế chiến thứ hai mở chi nhánh tại các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Canada, kinh doanh địa ốc, tiền tệ, mậu dịch quốc tế. Năm 1956 chuyển văn phòng chính sang Paris, năm 1974 gia tộc hầu hết di cư sang Pháp và các quốc gia khác. Tại Sài Gòn thời Pháp thuộc, tên Hui Bon Hoa được đặt tên cho một con đường (nay là đường Lý Thái Tổ).


    [​IMG]
    Tượng ông Quách Diệm ở chợ Bình Tây hiện nay - Ảnh: Minh Đức Quách Diệm (thường được gọi là Quách Đàm, 1863-1927), tự Thiệu Trí, hiệu Nhược Ngu, nguyên tịch Long Khê, huyện Triều An, Quảng Đông. Năm 14 tuổi sang Chợ Lớn mua bán phế liệu, da trâu, sau mở xưởng thuộc da, lập Công ty Thông Hiệp, kinh doanh xuất nhập khẩu hóa vật, thổ sản, xưởng rượu, xưởng dệt.
    Trong thị trường lúa gạo có mạng lưới thu mua khắp Nam kỳ, là cổ đông chính nhà máy xay lúa Di Xương, sau lại mở thêm ba nhà máy Thông Mậu, Thông Thạnh, Thông Nguyên (ở Mỹ Tho).
    Lập nhà máy đường Tây Ninh, mở hãng Thông Nguyên thu mua bông vải ở Campuchia. Lập hãng tàu biển Nguyên Lợi hoạt động vận tải các tuyến Sài Gòn - Singapore, Hong Kong, Quảng Châu, Sán Đầu (cũng là những nơi có phân hãng của Thông Hiệp và Di Xương). Năm 1902, Quách Diệm góp 1/5 tổng số tiền trùng tu Hội quán Nghĩa An, năm 1924 xây chợ Bình Tây.
    ____________
    (*): Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt; tổng đốc Phương - Đỗ Hữu Phương; bá hộ Xường - Lý Tường Quan và chú Hỏa - Hui Bon Hoa.
  6. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    [​IMG]
    Saigon-horizontale japonaise

    Kidnapped by specialised pimps (zeigen) or sold by starving families, thousands of poor rural Japanese girls were forced into prostitution. Called "karayuki" (outward-bound), many were shipped out to brothels dotted about Japanese treaty-ports in China and East Asia.The practice, conducted with full government endorsement, continued until the end of the Pacific war. Later, the karayuki were joined by women from Korea and Japanese-occupied territories and all became collectively known by the euphemism "comfort women."
    This karayuki looks a force to be reckoned with. The French term "horizontale" applied to the upper ranks of the profession (e.g. La Belle Otero, Cora Pearl, et al) and, whatever this one was, she was obviously no wallflower!



    [​IMG]

    [​IMG]


    horizontale & faire l'horizontale ; Horizontale n. f.
    ¶ Courtisane, prostituée élégante, prostituée, fille publique (plutôt de standing élevé) ; femme facile ; se prostituer
    éléments constituants : horizontale faire • synonyme : prostituée, prostitué (14.00/2124.91±0.65%) • usage : prostitution - 2

    (1) cent sous, une fille de lupanar ; vingt francs, une boulevardière, de Montmartre à la Madeleine ; cinq louis, une horizontale 1886. (2) La salle Buffault eut promptement la clientèle des horizontales de l'époque : Adèle Courtois, ***e le Belle Hollandaise ; Cornélie Château, Berthe de Ligny, Andréa l'écuyère, Clarisse de Montfort, Berthe la blonde, etc. ; à leur suite vinrent les boudinés 1886. (3) Je vous le vends pour cinquante mille francs… Allons, voyons, n'hésitez donc pas. On dépense quelquefois plus que cela pour une horizontale dont on a honte après… 1889. (4) Autrefois les Lorettes, Cocotes, Horizontales, tout ce qu'on voudra, avaient leur quartier général dans Breda-Street 1897. (5) Pas belle pourtant, l'horizontale de petite marque qui faisait ainsi les délices des débauchés du Marais 1899. (6) Mais ce n'est pas ici un quartier à horizontales ni à gommeux 1932.
  7. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Tác giả: KTS Nguyễn Hữu Thái

    PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ SÀI GÒN
    NHỮNG CƠ HỘI BỊ BỎ LỠ !

    Sài Gòn trong vòng hai thế kỷ vừa qua đã có không ít cơ hội bị bỏ lỡ trong việc phát triển không gian đô thị. Bộ mặt Sài Gòn phải chăng sẽ khác đi rất nhiều nếu đề xuất của các nhà quy hoạch đô thị xuất sắc và tâm huyết không gặp phải những lực cản từ sự thiển cận của giới cầm quyền, nạn bè phái, quyền lợi của giới tư bản vị kỷ, các thế lực đầu cơ đất đai, và đặc biệt bất ổn từ chiến tranh. Trong số họ đã có đến 3 kiến trúc sư từng được nhận giải thưởng kiến trúc danh giá nhất của nước Pháp là Giải lớn La mã (Grand Prix de Rome): Hébrard, Cerutti và Ngô Viết Thụ. Tham luận này mong nêu bật lên được các điểm mạnh của các đề xuất đó, phân tích các lý do thất bại của chúng nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho những nhà quy hoạch và quản lý đô thị ngày nay.

    Nếu thành Gia Định còn tồn tại, bộ mặt Sài Gòn sẽ ra sao?
    Diễn tiến công cuộc đô thị hóa Sài Gòn phải chăng là một chuỗi liên tục phá hủy cái cũ và xây dựng cái mới. Tiền đồn phương Nam của các chúa Nguyễn là Gia Định Thành được xây dựng khá quy mô vào năm 1790. Chỉ mấy mươi năm sau, nhân cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, Gia Định Thành bị phá hủy và thu nhỏ vào thành Phụng. Thành trì quá yếu ớt này dễ bị súng đạn hiện đại của quân xâm lược Pháp triệt hạ vào năm 1859. Oái ăm thay, sự kiện này lại đánh dấu sự sụp đổ của lối quy hoạch phát triển của “thành lũy phòng thủ” thời trung cổ và mở ra giai đoạn quy hoạch phát triển của các “trung tâm đô thị mở” thời đại công nghiệp mới.

    [​IMG]

    Gia Định Thành, 1815

    Nhìn lại sự phát triển của Sài Gòn trong lịch sử cận – hiện đại, phải nói là công cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào giữa thế kỷ XIX đã mang tính hủy hoại ngay từ ban đầu. Thành Gia Định bị san phẳng thành bình địa (tabula rasa) bằng bạo lực nhằm xây dựng lại hoàn toàn mới một thành phố Sài Gòn theo hình ảnh và tiêu chí đô thị phương Tây, tượng trưng cho những tham vọng của đế quốc Pháp trên toàn bộ bán đảo Đông Dương và cả vùng Hoa Nam. Một thành phố với tính chất dành riêng trên cơ sở chủ yếu là chủng tộc, sự giàu có và quyền lực đã trở thành biểu tượng áp bức nhân dân Việt Nam. Nó chế giễu và vạch trần cái huyền thoại về sứ mệnh khai hóa của thực dân Pháp.

    Phải chăng phương án quy hoạch Coffyn 1862 là không tưởng?


    [​IMG]

    Phương án quy hoạch Sài Gòn của Coffyn, 1862​

    Đô đốc Bonard ngay từ năm 1862 đã đốc thúc trung tá công binh Coffyn lên phương án quy hoạch một thành phố mới. Một phương án đô thị mới ra đời, không hề đếm xỉa đến các đặc điểm vùng đất nhiều ao hồ, sông rạch, mà xây dựng hẳn một thành phố theo dạng chia ô bàn cờ, sáp nhập Chợ Lớn vào Sài Gòn với quy mô dân số dự kiến 500.000 dân. Thành phố chỉ đặt một quảng trường quân sự lớn ở phía Bắc và đào kênh vành đai nối liền hai rạch Bến Nghé và Thị Nghè – Nhiêu Lộc ngăn ngừa địch tấn công từ phía Tây.

    Phương án bị cho là không tưởng vì dự kiến một số dân quá đông và vượt quá khả năng thực hiện của người Pháp thời đó. Tuy vậy, phương án đã rút tỉa được kinh nghiệm qui hoạch các thành phố Alger (thuộc địa Pháp ở Bắc Phi) và Singapore (thuộc Anh), dự trù kế hoạch phân lô bán đất gây quỹ cho chính quyền thuộc địa, có phân khu chức năng rõ ràng với các khu hành chính, thương mại, công nghiệp và nhà ở riêng biệt.


    Phương án trong thực tế tuy không thực hiện được nhưng đã làm cơ sở cho phát triển Sài Gòn những giai đoạn tiếp theo. Do sự kiện chính quyền thực dân chiếm đoạt các khu đất trung tâm béo bở bán cho tư sản châu Âu, Hoa, Ấn và đẩy người bản địa về phía bên kia rạch Bến Nghé, xuống phía Nam Sài Gòn, mà việc quy hoạch phát triển Sài Gòn khó chủ động, gây nạn đầu cơ đất đai kéo dài hàng thế kỷ.

    [​IMG]

    Bản đồ Saigon 1867 (còn vết tích Thành Phụng)​

    Phê phán qui hoạch thành phố Sài Gòn thời các đô đốc Pháp, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng người Pháp nặng về phần phô trương quyền lực thực dân với trục đường hoành tráng, cửa nhà khang trang nhưng lại chưa xây dựng được hạ tầng kỹ thuật đô thị và nhất là đẩy người bản xứ vào các khu ở chật chội, lầy lội, thiếu vệ sinh. Nhà nghiên cứu Mỹ Gwendolyn Wright khi nghiên cứu về các đô thị thuộc địa Pháp cho rằng kiểu làm đó là lối “qui hoạch giả tạo” không giải quyết được các vấn đề cơ bản đô thị và mang tính phân biệt đối xử.

    [​IMG]

    http://vanhocnghethuat.org.vn/hoi-ki...ua-cac-thoi-ky
  8. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127



    [​IMG]Sài Gòn là một thành phố nhỏ tọa lạc tại khu vực giới hạn bởi sông Sài Gòn (phía Đông), rạch Thị Nghè (phía Bắc), rạch Bến Nghé (phía Nam). Cư dân sinh sống ở đây ước tính khoảng 100.000 người, phần lớn tập trung tại Sài Gòn và Chợ Lớn. Cho đến năm 1859, Sài Gòn vẫn còn là một trung tâm hành chính quân sự. Các công trình xây dựng lớn chủ yếu phục vụ cho chức năng cai trị và phòng thủ, hoàn toàn chưa có những tiện nghi công cộng, các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho một thành phố thương mại, thành phố cảng.
    Nhằm thực hiện mưu đồ chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ nước ta, tiến tới việc xác lập khu vực ảnh hưởng của đế quốc Pháp tại Viễn Đông, triều đình Paris, đặc biệt là các Đô đốc trực tiếp cai trị tại Nam Kỳ, đã gấp rút xúc tiến việc qui hoạch xây dựng Sài Gòn thành một đô thị lớn nhiều chức năng (hành chính, quân sự, kinh tế, cảng v.v...) với dân số dự kiến lên đến trên nửa triệu người. Mục đích chính của những nổ lực nhằm sớm biến Sài Gòn thành một thành phố sầm uất, ngoài những yêu cầu về lãnh thổ, yêu cầu cạnh tranh ảnh hưởng với các thế lực đế quốc khác ở Viễn Đông, người Pháp còn muốn nhanh chóng khai thác Nam Kỳ, mà các chuyên gia Pháp đã nhìn thấy ở đó tiềm lực kinh tế to lớn. Nguồn lợi kinh tế do Nam Kỳ mang lại sẽ gánh bớt một phần chi phí chiếm đóng Việt Nam, mối băn khoăn của triều đình Napoléon III ngay từ những toan tính ban đầu.
    Năm 1862 dự án thiết kế thành phố Sài Gòn của Coffyn được phê duyệt bao gồm cả vùng Chợ Lớn. Đến năm 1864, do diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, đặc biệt tình hình trị an đòi hỏi phải thu hẹp phạm vi thành phố, người Pháp cho tách khu Chợ Lớn ra khỏi thành phố Sài Gòn. Đây là một thay đổi cơ bản và thuận lợi nhất để tập trung đầu tư xây dựng khu trung tâm Sài Gòn.
    Vùng Chợ Lớn trước khi người Pháp tới là điểm trung tâm cư dân người gốc Hoa. Họ là các thương nhân năng nổ, chăm chỉ làm ăn tạo cho Chợ Lớn thành một khu vực phát triển rất nhanh, nhất là sau khi người Pháp đến và xúc tiến việc khai thác thuộc địa.
    Việc tách Chợ Lớn ra khỏi dự án thiết kế thành phố Sài Gòn còn giúp tạo điều kiện cho khu vực này phát triển nhanh chóng, việc buôn bán ở đây rất thuận lợi, vì khu vực Chợ Lớn khi đã tách ra, đất đai không bị hạn chế do phải dành mặt bằng cho khu hành chánh, công thự, công trình công cộng... những cơ sở thiết yếu của một thành phố thủ phủ.
    Trước năm 1859, vùng đất nằm giữa Sài Gòn - Chợ Lớn vốn là vùng nông nghiệp trù phú. Chiến cuộc diễn ra, cư dân tại vùng này phải bỏ đi lánh nạn bất hợp tác với người Pháp, nên vùng đất trên bị hoang hóa. Khi người Pháp hoàn tất việc chiếm đóng Sài Gòn và ba tỉnh miền Đông, họ nhanh chóng tiến hành khai thác kinh tế. Hiện trạng hoang hóa một vùng đất rộng lớn giữa Sài Gòn - Chợ Lớn là phí phạm. Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc tách Chợ Lớn ra khỏi Sài Gòn giúp Chợ Lớn mở rộng nhanh về phía Sài Gòn, người Pháp còn thực hiện ở đây chế độ tá canh thu tô hoặc bán rẻ đất hoang cho những ai có nhu cầu làm ruộng, lập vườn, sản xuất các loại rau quả nhiệt đới mà người Âu rất ưa chuộng. Một khi vùng đất hoang hóa dần dần có người cư trú, giá đất Sài Gòn cũng sẽ được nâng lên, tốc độ đô thị hóa cũng tăng theo.
    Trước khi người Pháp đến, địa hình phạm vi Sài Gòn gồm một vùng cao ở phía Bắc, trải dài từ vùng lũy thành Sài Gòn đến vùng Mả Ngụy, nơi cư dân hầu hết là các nhà phú hộ đại bộ phận còn gọi là đồng ruộng, ao đìa. Cư dân nghèo sống chen chúc dọc theo rạch Bến Nghé trong các căn nhà nhỏ nửa đất nửa sàn. Giao thông trên bộ thời bấy giờ chủ yếu một số lô đất nhỏ được đắp cao lên vừa quá mức nước lúc triều cường.
    Cho nên, khi người Pháp đưa ra dự án thiết kế thành phố, khó khăn đặt ra là làm thế nào cải tạo mặt bằng phục vụ cho việc thiết lập các cơ sở hạ tầng, xây dựng công thự, các công trình công cộng khác. Nói chung là những yêu cầu tối thiểu phải có trước mắt của một thành phố khả dĩ thích nghi với hoạt động thương mại phương Tây.
    Giải quyết vấn đề này, người Pháp cho thực hiện một giải pháp tương đối đơn giản. Trước tiên cho đào nhiều kinh ở các chỗ trũng thuộc vùng thấp của thành phố vừa để tạo điều kiện cho ghe thuyền lưu thông thuận lợi, vừa có tác dụng tháo nước làm trong sạch các vùng đầm lầy đồng thời lấy đất lấp các vùng trũng khác. Khi các công trình đầu tiên được xây dựng trên những khu vực vừa được san lấp, người Pháp cho san bằng vùng đồi phía Bắc Sài Gòn, lấy đất lấp các con kinh đào (đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, đường vào cổng chính ở Ba Son hiện nay là những kinh đào được lấp lại).
    Sau hai năm cải tạo và xây dựng bộ mặt Sài Gòn đã thay đổi hẵn. Các vùng trũng đầm lầy, những đường mòn gồ ghề được thay đằng những công trình mới được xây trên một không gian thoáng đãng, ở đó người ta mở những quãng lộ, những con đường ngang, dọc có trải nhựa phẳng phiu, hai bên vỉa hè rộng rãi được trồng cây xanh thẳng tắp.
    [​IMG]Bến cảng, kho bãi được xây dựng gấp rút đúng qui củ để sẵn sàng đón tàu cập bến bốc dỡ hàng.
    Từ những thay đổi ban đầu, Sài Gòn đã tự thể hiện là một thành phố đẹp với một hệ thống giao thông thủy bộ hết sức tiện lợi. Ngoài ra nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi và một hậu phương trù phú đầy tiềm năng, Sài Gòn sớm trở thành một trong những thương cảng quan trọng ở khu vực Viễn Đông.
    Sài Gòn trong cuộc sống
    Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Đức Tánh (không rõ chức vụ) đã gửi về cho triều đình Huế một bản tường trình đề ngày 9-12-1863 (ngày 18 tháng 10 Quý Hợi, Tự Đức năm 16) được lưu lại trong châu bản (Tự Đức, tập 155 trang 114a). Tình hình Gia Định, Bến Nghé được mô tả khá tỉ mỉ:
    [​IMG]"Nhà văn miếu đã dỡ đem về thôn Tân Khai để dựng phủ nha Tân Bình. Phía hữu tỉnh thành cũ có dựng một nhà lầu rất cao rộng đặt danh là lầu xem lễ, bốn mặt có xây đạo đường, đạo quán, nhà phước. Dân đạo thì ở bao bọc phía ngoài, già trẻ, trai gái theo đạo khá đông.
    Trường Thi cũ, phía ngoài bốn mặt tường gạch được bồi đắp thêm. Quân xá cũng đều cải tạo. Quan binh Tây ở phía trước Trường Thi, còn nơi phủ Tân Bình cũ có dựng một tòa lầu cho Phủ Soái ở. Bốn bên có nhiều nhà cửa, trại binh, chuồng ngựa. Quan binh lớn nhỏ chia ở chung quanh.
    Từ thôn Tân Khai Bến Thành cho tới Điếm Lá, họ xây nhà mới hoặc sửa sang lại để trữ hàng hóa.
    Đối diện chợ hội là thôn Khánh Hội thì giáo dân ở. Đối diện với chợ Bến Thành là thôn Nhai Quới... có lập một phố lầu xanh. Nơi đây gái điếm và giáo dân cùng lẫn lộn. Từ xóm Điếm Lá đến Cầu Kênh Chợ Lớn thì nhà dân và các tiệm mua bán. Ơở khu chợ hội đối diện với thôn Khánh Hội mới bắc một chiếc cầu. Chợ Kênh đối diện với Xóm Than cũng có một chiếc cầu. Sang Thị Nghè thông đến sông Xóm Kiều, khúc sông trước bị lấp nay đã cho đào tại, từ cầu Nhiêu Lộc đến chùa Mai Sơn, nối liền hai thôn Bình Tiên và Bình Tây, thông thẳng đến kênh Ruột Ngựa.
    Đại đồn ngày trước chỉ còn lại một tiền đồn do quan binh Tây đóng ước độ 100. Đồn Tây Thới trước nay vẫn còn và lại xây thêm một đồn rất kiên cố có độ 100 lính Tây đồn trú".
    Cùng với sự thay đổi về mặt quang cảnh, đường sá, phố phường là sự áp đặt một guồng máy hành chính mới với thuế má, phu dịch.
    Tại các phủ huyện, chính quyền thực dân tuyển dụng trong giáo dân hay những cử nhân tú tài hiếm hoi cam tâm theo chúng. Bên cạnh viên tri phủ hay tri huyện người Việt chúng đặt một tham biện huyện vụ. Chúng định lại thuế thân, thuế điền thổ, thuế ghe tàu, thuế thuốc phiện, thuế sòng bạc.
    "Nhân dân thì bất luận già trẻ tàn tật mỗi người phải nộp 1 quan 5 tiền và phải phụ thêm 1 quan. Dân xã Minh Hương mỗi năm phải nộp 2 lạng bạc, người Thanh phải nạp thêm 2 quan. Gái điếm mỗi thị phải nộp 10 quan mỗi tháng. Người Thanh lập phố để nấu a phiến, mở sòng bạc thì phải nộp từ 2.000 đến 5.000
    [​IMG]Thuyền buôn các tỉnh cập bến, hạng dài 30 trượng thì bề ngang cứ mỗi thước thu thuế 3 quan, dài 40 trượng, bề ngang mỗi thước 5 quan. Hạng thuyền lớn sau khi dỡ hàng phải lấy đất đổ xuống khoang thì đánh thuế 70 quan, hạng trung 50 quan, hạng nhỏ 30 quan. Thuyền ván độc mộc muốn đi lại phải làm tờ khai, hạng lớn nạp 5 quan, hạng nhỏ 3 quan. Hết hạn 3 tháng phải đổi giấy thông hành, quá hạn phải phạt 5 quan".
    Tháng 8 âm lịch năm Quý Dậu (1863) giá gạo tăng vọt, mỗi phương hơn 9 quan, dân chúng đói kém, bọn Tây đem bánh mì cũ trong kho đi phát tận các thôn xã. Nhân dân không nhận không được, nhưng khi phái viên của Tây về rồi thì ai cũng vất bánh đó xuống sông hay là cho heo cho chó chứ không thèm ăn.
    [​IMG] Tổ chức bộ máy cai trị
    Phân bố mới về chính trị và hành chính việc cai trị
    [​IMG]

    1. Lục Tỉnh Nam Kỳ, nay là thuộc địa Pháp, được cai trị bởi một thống đốc, với sự trợ tá của một hội đồng tư vấn.
    2. Trụ sở chính quyền đặt tại Sài Gòn trong tỉnh Gia Định, đây là đô thành thiết kế theo kiểu Âu Châu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám độc nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, tòa giám mục, hải quân công xưởng, sở quản trị hải quân và tài chính, sở chỉ huy bộ binh, phòng thương mại, sở điện tín trung ương v.v...
    3. Thói quen vẫn giữ cho Nam Kỳ thuộc Pháp cách phân chia các tỉnh như dưới thời quan ta. Nhưng danh xưng đó không bao hàm một nền hành chính riêng hay đặc biệt cho mỗi tỉnh như trong quá khứ. Nay sự cai trị (các tỉnh) hoàn toàn lệ thuộc vào chính quyền ở Sài Gòn.
      Việc cai trị bản xứ được trao cho các viên thanh tra hay tham biện, và địa bàn thuộc quyền cai trị của họ gọi là hạt thanh tra (hay là hạt). Giúp việc cho các quan Tây, còn có các quan lại bản xứ, trong đó có những tên tay sai hết sức đắc lực.
      [​IMG]Còn việc nội trị tổng quát trong xứ thì tập trung cả ở Sài Gòn, trong các văn phòng của Nha Giám đốc Nội vụ. Tham biện các địa hạt trực tiếp thuộc quyền giám độc nội vụ; giám đốc nội vụ chuyển cho họ mọi chỉ thị và mệnh lệnh hành chính; tham biện phải báo cáo cho giám đốc nội vụ mọi sự việc và tình hình có can hệ đến việc điều hành công tác thuộc địa.
    4. Năm 1875, tất cả có 20 địa hạt, do các viên tham biện cai trị - chia ra như sau:
      Ba địa hạt ở miền Đông, tức là:
      1. Biên Hòa
      2. Bà Rịa
      3. Thủ Dầu Một
      Sáu địa hạt ở trung tâm:
      1. Tây Ninh
      2. Sài Gòn
      3. Chợ Lớn
      4. Gò Công
      5. Tân An
      6. Mỹ Tho
      Ba địa hạt ở miền Nam:
      1. Bến Tre
      2. Trà Vinh
      3. Sóc Trăng
      Tám địa hạt ở miền Tây:
      1. Vĩnh Long
      2. Sa Đéc
      3. Long Xuyên
      4. Trà Ôn
      5. Châu Đốc
      6. Hà Tiên
      7. Rạch Giá
      8. Phú Quốc, sau bãi bỏ và sáp nhập vào Hà Tiên như xưa, theo nghị định ngày 16-6-1875.
      [​IMG]Những địa hạt đó gọi theo tên lị sở chia ra tổng, tổng chia ra xã thôn.
    5. Sau đây là bảng kê lục tỉnh và các địa hạt thống thuộc:
      1. Gia Định - 5: Sài Gòn, Chợ Lớn, Tây Ninh, Tân An, Gò Công
      2. Định Tường -1: Mỹ Tho
      3. Biên Hòa -3: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một
      4. Vĩnh Long -3: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre
      5. An Giang -5: Châu Đốc, Long Xuyên, Trà Ôn, Sa Đéc, Sóc Trăng.
      6. Hà Tiên - 3: Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc (giải thể ngày 1-7-1875)
    6. Những địa hạt trên liên lạc với nhau:
      1. Bằng các trạm với Sài Gòn làm đầu tuyến và dịch vụ này do lính trạm đảm đương.
      2. Bằng các trạm điện tín bắt đầu tư Sài Gòn đến Nam Vang.
    Tất cả có 26 trạm điện tín, đó là:
    Sài Gòn
    Cái Bè

    Thủ Dầu Một
    Vĩnh Long

    Biên Hòa
    Bến Tre

    Long Thành
    Sóc Trăng

    Bà Rịa
    Sa Đéc

    Vũng Tàu
    Trà Vinh

    Trảng Bàng
    Long Xuyên

    Tây Ninh
    Rạch Giá

    Chợ Lớn
    Châu Đốc

    Bến Lức
    Hà Tiên

    Gò Công
    Nam Vang

    Tân An
    U Đông

    Mỹ Tho
    Cần Vọt
    Nhiều tuyến điện tín nữa sẽ được đặt liên lạc với đô thành. Chỉ còn địa hạt Cần Thơ là chưa có liên lạc điện tín.

    1. Riêng thủ phủ Sài Gòn thì liên lạc với chính quốc (Pháp) qua hãng chuyên chở đường biển và bằng một dây cáp điện tín đặt ngầm dưới biển.
    2. Chức năng của thống đốc - Thống đốc đại diện cho thủ tướng chính phủ bên chính quốc (Pháp) và nhận quyền lực từ thủ tướng trao phó. Thống đốc cử nhân viên và công chức; việc cử đặt này không dành cho chính quốc. Thống đốc ban hành nghị định và quyết định, thi hành quyền tối cao về hành pháp và tư pháp đối với dân bản xứ, ấn định các sắc thuế địa phương và qui định các tiêu chuẩn thuế khóa cùng nguyên tắc trong việc thâu thuế công cộng.
      Tóm lại, thống đốc gồm thâu cả quyền dân sự lẫn quân sự, đồng thời là tổng chỉ huy sư đoàn hải quân ở Nam Kì.
    3. Hội đồng tư vấn - Thống đốc được trợ tá bởi một hội đồng riêng chỉ có tính cách tư vấn, hội đồng này gồm:
      1. Chỉ huy trưởng bộ binh
      2. Chánh sự vụ hành chính
      3. Giám đốc nội vụ
      4. Chưởng lý tòa án và hai nhân sĩ người Pháp hiện lưu trú trên đất thuộc địa.
    4. Hành chính tổng quát - Chúng ta thấy có bốn ngành quản trị tổng quát, đó là:
      1. Hành chính nội vụ
      2. Hành chính hải quân
      3. Hành chính tòa án
      4. Hành chính quân sự
      5. Giám sát thuộc địa (qui định do nghị định ngày 15-4-1873; giải thể bằng nghị định ngày 16 tháng 6 cùng năm).
      6. Kho bạc
    5. Giám đốc nội vụ đứng đầu ngành hành chính nội vụ, dưới quyền có các phòng coi về:
      1. Tòa án bản xứ
      2. Học chính
      3. Tài chính sự vụ như bưu chính, trước bạ và công sản, địa chính, điện tín, sở giám đốc thương cảng.
      4. Sở công chính gồm có ban cầu đường và ban xây dựng công thự dân chính.
      5. Các sự vụ liên quan tới nông nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp.
      6. Cảnh sát, các trại giam và nhà thương.
      7. Tại các địa hạt, các sự vụ bản xứ do tham biện điều khiển và có nhân viên dưới quyền làm các việc nhỏ mọn về hành chính và cảnh sát như phủ, huyện, cai tổng và xã trưởng các làng.
    6. Cho tới năm 1874, các tham biện lo các sự vụ bản xứ (sau gọi chủ tỉnh) đầu lựa chọn trong giới sĩ quan thuộc mọi ngành (hải quân). Nhưng từ khi công bố nghị định mới ngày 1 tháng 2 năm 1873, các tham biện hậu bổ phải được chọn trong giới thanh niên có cấp bằng đại học và tuổi từ 28 trờ lên.
    7. Các sự vụ thuộc phạm vi quản trị hải quân, nghĩa là các sự vụ thuộc trách nhiệm riêng của chính quốc, mà đứng đầu là viên chánh sự vụ hành chính thì coi sóc:
      1. Việc điểm binh
      2. Khí giới và đăng ký hải quân
      3. Tài vụ
      4. Kho lẫm và công việc
      5. Binh lương
      6. Bệnh viện
      Tất cả các sự vụ trên được điều khiển bởi các sĩ quan thuộc ngành ủy trị hải quân.
    8. Đứng đầu nền quản trị tòa án của Pháp là vị chưởng lý có thẩm quyền trên các ngành tư pháp là:
      1. Tòa án thương mại
      2. Cảnh sát
      3. Các tham biện giữ nhiệm vụ xét xử mọi vụ kiện bản xứ thuộc tòa sơ thẩm.
      Chưởng khế (hay công chứng viên) cũng thuộc quyền chưởng lý.
    9. Việc quản trị quân đội, do thống đốc là tổng chỉ huy trực tiếp, thì gồm có:
      1. Dịch vụ bộ binh do một thiếu tướng chỉ huy với một tham mưu trưởng phụ tá.
      2. Thủy quân do một sĩ quan thủy sư cầm đầu, ông này coi cả giảm đốc thủy quân công xưởng.
    Địa phận Sài Gòn năm 1861
    [​IMG]Ngày 11-4-1861, Phó Đô đốc Charner, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp, ban hành nghị định quy định ranh giới Sài Gòn nằm trong khu vực giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè (Arroyod' Avalanche) và rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa. Cụ thể nhất là Quyết định số 145 ngày 14-8-1862 của Đề đốc Bonard - Thống đốc quân sự đầu tiên - quy định tổ chức hành chính tỉnh Gia Định, trong đó có Sài Gòn. Đây là quyết định căn bản mở đầu cho việc tổ chức hành chính Sài Gòn thời Pháp thuộc. Bonard đã chia tỉnh Gia Định ra ba phủ, mỗi phủ có ba huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã, thôn, lý, ấp. Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh l?ủa Gia Định vừa là phủ l của phủ Tân Bình là huyện l?uyện Bình Dương, còn Chợ Lớn là huyện l?ủa huyện Tân Long, cùng phủ Tân Bình.
    [​IMG]Về phương thức cai trị, trong thời gian đầu, thực dân Pháp tạm thời sử dụng các quan phủ, huyện của triều An Nam, cho điều hành công việc tại các phủ, huyện dưới sự chỉ đạo chung của Bố chánh tỉnh Gia Định là một viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (Inspecteur des affaires indigènes). Riêng người Hoa và những người châu Aá khác sống ở Chợ Lớn tuy thuộc huyện Tân Long nhưng được cai trị trực tiếp bởi một thanh tra các công việc của người Hoa (Inspecteur des affaires Chinoises) với sự giúp đỡ của Hội đồng các bang trưởng Hoa Kiều.
    Thành lập Thành phố Sài Gòn
    [​IMG]Năm 1864, Chợ Lớn được tách khỏi Sài Gòn về phương diện quản lý địa bạ, vì một trong những lý do chủ yếu là thành phố người Hoa (Ville Chinoise) đang trên đà thịnh vượng, việc quản lý và mua bán đất đai đòi hỏi phải tách Sài Gòn và Chợ Lớn ra thành hai thương điếm (emporium) riêng biệt. Tuy vậy, trước năm 1867, Sài Gòn chưa được chính thức xem như một thành phố.
    [​IMG]Phải đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn mới được chính thức giao phó cho một tổ chức riêng biệt là Ủy ban thành phố, được thành lập do Nghị định số 53 ngày 4-4-1867 của Thống đốc Pháp De La Grandière. Uủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên. Ủy viên được chọn trong số những cư dân châu Á cũng như châu Âu cư trú tại Sài Gòn, không phân biệt quốc tịch.
    Ủy ban thành phố biểu quyết về các vấn đề: quản lý tài sản công, ngân sách, biểu thuế, những quy định về việc thu thuế, các dự án xây dựng, sửa chữa lớn, bảo trì, mở mang đường sá, v.v. Ngoài ra, Ủy ban còn được hỏi ý kiến về một số vấn đề liên quan đến hoạt động của thành phố. Mọi hoạt động của Ủy ban thành phố đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Đổng lý Nội vụ (Directeur de l'intérieur)- một chức danh quan trọng được thiết lập vào năm 1864, có nhiệm vụ phụ giúp viên Thống đốc trong việc điều khiển chung nền hành chính của những vùng đất đã nằm trong tay thực dân Pháp.
    [​IMG]Đến ngày 8-7-1869, tổ chức thành phố Sài Gòn được sửa đổi bởi Nghị định số 131 của Thống đốc Ohier, theo đó, Ủy ban thành phố được cải danh thành Hội đồng thành phố với một chủ tịch hay ủy viên trưởng và 13 ủy viên. Ủy viên trưởng hội đồng thành phố được gọi là Đốc lý Sài Gòn (Maire de Saigon) do Thống đốc bổ nhiệm trong số những công chức Pháp. Thể thức cử nhiệm các ủy viên Hội đồng cũng thay đổi: 6 ủy viên do Thống đốc Nam Kỳ chỉ định, 7 do bầu cử trực tiếp. Nhiệm kỳ của Hội đồng nâng từ 1 năm lên 2 năm. Pétrus Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên tham gia vào Hội đồng thành phố Sài Gòn do Nghị định đề cử số 210 ngày 27-9-1869 của Thống đốc Ohier. 8 năm sau, sắc lệnh ngày 8-1-1877 của Chính phủ Pháp thay đổi thành phần của Hội đồng thành phố gồm 13 hội viên: 7 do dân bầu và 6 do chính quyền đề cử: Viên đốc lý cũng do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm, có thể chọn trong số các công chức. Sở dĩ có thay đổi hệ thống cấp ban hành văn kiện sửa đổi tổ chức Hội đồng thành phố (sắc lệnh của Tổng thống Pháp thay vì Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ) vì lần này sắc lệnh dự liệu việc người nước ngoài có thể tham gia vào Hội đồng thành phố lên 15 người gồm 11 hội viên là người Pháp, 4 hội viên là người bản xứ. Viên đốc lý và hai phụ tá do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm.
    Trong thập niên 1860 và nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định. Năm 1880, ngoài Hội đồng thành phố Sài Gòn đang hoạt động, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh ngày 8-2-1880 thành lập một Hội đồng quản hạt (Conseilconlonia) trụ sở đặt tại Sài Gòn có chức năng bao trùm toàn thể thuộc địa Nam Kỳ. Và với sắc lệnh ngày 22-4-1880, Chính phủ Pháp đi thêm một bước nữa bằng cách áp dụng hình luật của Pháp trên toàn bộ Nam Kỳ. Hai năm sau (1882) là sự ra đời của các hội đồng hàng huyện (Conseild'arrondissement) do Nghị định ngày 12-6-1882 của Thống đốc Nam Kỳ. Với tổ chức này, thực dân Pháp đã tạm hoàn chỉnh bộ máy cai trị của họ tại Sài Gòn và các địa phương khác để có điều kiện toan tính nốt những phần còn lại của miếng mồi Đông Dương béo bở là Trung và Bắc Kỳ.
    Quy hoạch thành phố.
    [​IMG]Chỉ hai tháng sau khi Chí Hòa thất thủ, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã ký nghị định ngày 11-4-1861 ấn định phạm vi thành phố Sài Gòn. Song quy hoạch này đã không thể thực hiện vì thiếu ngân sách.
    Lần quy hoạch thứ hai, do nghị định ngày 3-10-1865, trên cơ sở thành thị Bến Nghé và Sài Gòn cũ. Sài Gòn chỉ rộng không quá 3 cây số vuông và Chợ Lớn chỉ hơn một cây số vuông. Sài Gòn bấy giờ nằm gọn trong quận 1 bây giờ, còn Chợ Lớn là quận 5 hiện nay. Giữa hai thành phố là vùng thuộc địa hạt Sài Gòn. Năm 1885 địa hạt được đổi tên là Gia Định và đến năm 1889 được gọi là tỉnh Gia Định.
    [​IMG]Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Thành phố được điều hành bởi một viên thống lý, hai viên phó đốc lý và một hội đồng thành phố. Còn Chợ Lớn, chậm hơn hai năm được thành lập do nghị định của thống đốc dân sự đầu tiên là Le Myre de Vilers, ký năm 1879.
    Theo thời gian phát triển, dân số tăng lên. Sài Gòn và Chợ Lớn xích lại gần nhau và thực sứ tiếp giáp ở khoảng đường Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thiện Thuật bây giờ vào năm 1910.
    Trong thời gian nửa thế kỷ, Sài Gòn đã thay đổi, hình thành nên một thành phố Tây Phương. Đường sá được thiếp lập. Dinh thự, phố xá, các khu dân cư cùng với các chợ... được xây dựng. Từ thủ phủ của Gia Định ngũ trấn (Gia Long), Nam Kỳ lục tỉnh (Minh Mạng), Sài Gòn theo thời gian đã trở nên trung tâm của ba tỉnh miền Đông (1862), rồi thủ phủ của Nam Kỳ (1867) và dần trở nên một trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng cho toàn Đông Dương.
    [​IMG]Trong thời gian đầu, Pháp xây dựng một khu hành chính làm trung tâm cho thành phố. Chung quanh có rào, bên trong là các dinh Thống đốc, các cơ quan hành chính, nhà dây thép, nhà thương, nhà thờ... tất cả đều làm bằng gỗ. Khu hành chính này ở gần Đồn Đất, trên gò cao. Phía sau là những trại lính, trước mặt nhìn ra sông Sài Gòn là các nhà kho của hải quân.
    Dọc theo dông Bến Nghé, Pháp cho đào các kinh cũ sâu và rộng hơn lấy đất đắp lên bờ. Sau nữa ban đất trên các đồi cao xuống mé sông, lấp kênh đắp đường. Rồi nhà lá gỗ được thay bằng nhà gạch ngói. Chỉ trong hơn ba thập niên, đa số các kiến trúc tiêu biểu của thành phố Sài Gòn như dinh Toàn quyền, dinh Thống đốc, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Nhà thờ... đã được xây dựng.
    [​IMG] Xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy
    Đẩy mạnh khai thác
    [​IMG]Cùng với sự phát triển đô thị, nền kinh tế cũng biến đổi theo chiều hướng mới. Trước hết, Sài Gòn là một thương cảng.
    Ngay sau khi đặt chân đến Sài Gòn, mặc dù tình hình chưa ổn định, thực dân Pháp đã quyết định thành lập cảng Sài Gòn (22-2-1860)
    Tài nguyên Nam Kỳ đã được liệt kê ngay và một chương trình khai thác cụ thể trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, và thương nghiệp được Phó Đô đốc Bonard vạch ra đã gửi về Pháp và được chấp thuận.
    [​IMG]Vị trí của cảng được xác định: nằm trên sông Sài Gòn. Ăn sâu 80 km vào đất liền, sông Sài Gòn vào năm 1628 là một điểm chính về thương mại, có thể thông thương với tất cả các vùng phía Nam với 2.000 km luồng lạch chảy qua tất cả các đồng bằng lớn. Về vị trí quân sự đây có thể là bàn đạp tấn công mở rộng xuống cả vùng Đông Nam Á. Cảng Sài Gòn từ những ngày đầu dài 4km, tập trung bên phải của sông giới hạn thượng lưu là quân cảng xuống đến Rondpoint (một vị trí trên bản đồ hồi đó) gồm có một bến đậu dài và một ụ để sửa chữa tàu từ Rondpoint đến Canal de dérivation là thương cảng. Đoạn này có Rạch Tàu (Arroyo Chinois) nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn, một trung tâm kinh tế, và lúc bấy giờ, con rạch này là đường giao lưu chính về hàng hóa nối liền hai trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn khi các phương tiện khác chưa thịnh hành. Là cảng sông, cảng thiên nhiên kín đáo, cảng Sài Gòn tránh được những cơn bão mà miền Viễn Đông thường xuyên gặp, lại nằm ăn sâu trong thành phố nên mọi sự vận chuyển hàng đều thuận lợi và ít tốn kém. Lòng sông rộng và sâu (trung bình 300m chiều rộng và từ 9 đến 12m sâu) tàu lớn 180m x 9m tránh nhau dễ dàng.
    [​IMG]Năm 1860, cảng Sài Gòn chính thức mở cửa. Ngày 25-8-182, quy chế của thương cảng được ban hành. "Tất cả tàu biển, trừ tàu Pháp và Y Pha Nho, đều phải nộp thuế bỏ neo, tính 50 xu trên 1 tonneau hàng". Sài Gòn được mở cửa, tàu bè các nước ra vào buôn bán, thương vụ mỗi ngày một tăng.
    [​IMG]Năm 1860, Sài Gòn tiếp nhận 246 tàu, trong đó có 111 tàu từ châu Âu mang đến nửa triệu quan thuốc phiện và một triệu quan các loại hàng hóa khác cùng chở đi 535.939 tấn gạo trị giá hơn 5 triệu quan và 1 triệu quan các loại hàng hóa khác. Doanh số mậu dịch năm 1860 của cảng Sài Gòn là 7,7 triệu franc (frs)
    Năm 1862, có 117 tàu châu Âu (có 11 tàu của Pháp) đến Sài Gòn với tổng trọng tải là 53.200 tấn, 129 tàu châu Âu rời cảng Sài Gòn (trong đó có 51 tàu của Pháp) chở đi 42.470 tấn gạo, 1.023 kiện bông, 1.746 kiện vải và 357 tấn lúa.
    Năm 1866, trọng tải hàng hóa qua cảng Sài Gòn là 600.000 tấn, xuất khẩu 100.000 tấn gạo, 2.687 tấn bông, 42 tấn tơ lụa, 150 tấn muối. Qua năm sau, 1867, Sài Gòn đã xuất khẩu 193.000 tấn gạo.
    [​IMG]Nhiều tàu buôn châu Âu thường xuyên thực hiện những chuyến đi về Sài Gòn với các thương cảng khác trong vùng như Singapore, Amoy, Quảng Đông, Macao, Hong Kong... Vào thời gian có gió mùa Đông Bắc trong năm, thuyền bè từ miền Bắc Trung Quốc chở những chuyến hàng đầu tiên đến Sài Gòn để từ đó đưa đi Singapore và khi gió mùa Tây Nam bắt đầu thổi, họ đưa hàng từ Singapore đến Sài Gòn rồi về lại Trung Quốc.
    Để tiện cho tàu bè ra vào cảng Sài Gòn, hải đăng Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) cũng được xây dựng xong và hoạt động kể từ ngày 15-8-1862. Hải đăng cao 8m, xây trên một vùng đất cao 139m và có một tầm trông thấy khoảng 28 dặm. Cảng Sài Gòn trên đường phát triển đòi hỏi phải có dịch vụ sửa chữa tàu. Năm 1864, xưởng Bason - một công binh xưởng do hải quân Pháp quản lý - được thiếp lập. Đây là xưởng cơ khí đầu tiên của thành phố Sài Gòn, quy tụ nhiều thợ lành nghề của nhiều ngành khác nhau, ngoài việc sửa chữa, xưởng Bason còn đóng mới các tàu có trọng tải nhỏ.
    [​IMG]Các nhà máy xay lúa được xây dựng phục vụ cho việc xuất cảng gạo mỗi năm một tăng. Nhà máy Xóm Chiếu, thành lập năm 1869, do công ty Alphonse Cahusac quản lý. Đây là nhà máy xay lúa đầu tiên của Sài Gòn. Công ty Speidel của Đức có hai nhà máy xay lớn là Riserie de l'Union và Riserie de l'Orient.
    Đến năm 1895, Nam Kỳ có 200 xưởng thủ công và nhà máy xay thì phần nhiều tập trung ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Riêng nhà máy xay chạy bằng hơi nước thì Sài Gòn có 2, Chợ Lớn có 7. Ước tính đến năm 1906, số công nhân ở Sài Gòn đã lên đến 25.000 người.
    Để đáp ứng nhu cầu thợ lành nghề, Pháp mở trường Bá Công Kỹ Nghệ năm 1897, đào tạo thợ vừa lành nghề vừa có ít nhiều văn hóa phương Tây. Đây là trường kỹ thuật dạy nghề đầu tiên ở Nam Kỳ đã đào tạo các công nhân kỹ thuật đầu tiên của nước ta.
    [​IMG]Giao thông là huyết mạch của kinh tế. Năm 1881 Pháp bắt đầu làm đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, bắc hai cầu lớn qua sông Vàm Cỏ.
    Năm 1902, cầu Bình Lợi được xây dựng. Năm sau, đường tàu điện Sài Gòn - Gò Vấp, Sài Gòn -- Chợ Lớn, Gò Vấp - Hóc Môn được thiết lập và vào năm 1910 Sài Gòn được nối với Nha Trang bằng đường xe lửa.
    Những kiến trúc tiêu biểu
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]





    • Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng) xây dựng xong vào năm 1864, phỏng theo kiến trúc của Bảo tàng hội họa Munich do kiến trúc sư Foulhou thiết kế. Trước năm 1879, Nam Kỳ đặt dưới quyền cai trị của các đô đốc hải quân nên dinh Thống đốc được gọi là dinh Đề đốc hay dinh Phó soái.
    • Dinh Toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất): Lễ đặt viên đá đầu tiên cho công trình kiến trúc đồ sộ này được cử hành vào ngày 23-2-1868. Viên đá đầu tiên hình lập phương, mỗi cạnh 50cm, bên trong có chứa các đồng tiền vàng, bạc, đồng. Công trình hoàn tất vào năm 1873. Đồ án do kiến trúc sư Hermitte vẽ.
      Đầu thế kỷ XX, Nguyễn Liên Phong đã mô tả dinh:

      Toàn quyền tổng thống đại dinh
      Tứ vi song sắt, tiền đình nghiêm trang
      Ngoài thời có cửa tam quan
      Trong thời lầu các dọc ngang nhiều từng
    • Dinh Xã Tây (nay là Uủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh), còn gọi là Sở Xã Tây. Lễ đặt viên đá đầu tiên vào năm 1873 nhưng vì thiếu ngân sách nên mãi đến năm 1898 mới thực sự được xây dựng. Năm 1909, nhân kỷ niệm 50 năm (1859-1909) chính quyền thực dân được thiết lập, dinh Xã Tây được tổ chức lễ khánh thành. Họa đồ kiến trúc do kiến trúc sư P.Gardès vẽ.
    • Nhà hát Tây (Nhà hát thành phố bây giờ) xây dựng năm 1898 theo đồ án của kiến trúc sư Berger và được khánh thành vào ngày 1-1-1900. Đầu thế kỷ XX, các đoàn hát Tây thường từ chính quốc sang Sài Gòn biểu diễn vào tháng 5 đến tháng 1 và vào các ngày thứ ba, thứ năm, thứ bảy và tối chủ nhật.
    • Bưu điện Sài Gòn: Dân chúng đương thời quen gọi là Nhà dây thép, Sở dây thép. Khởi công xây dựng năm 1886 và hoàn thành vào năm 1891. Dịch vụ bưu điện là dịch vụ mới lạ đối với dân chúng và rất gây ấn tượng.
    • Nhà thờ Thiên chúa (Nhà thờ Đức Bà hay Vương cung Thánh đường) được khởi công xây dựng ngày 1-10-1877 và khánh thành vào ngày 11-4-1880 với tổng kinh phí 2,5 triệu franc theo thời giá lúc bấy giờ. Hai tháp chuông nhọn, cao 57m được xây thêm vào năm 1895.
    • Chợ Bến Thành (cũ): Chợ Bến Thành ở vị trí ngày nay, mới được xây dựng vào năm 1911. Trước đó chợ Bến Thành nằm ở mé sông, đầu các con đường lớn, ghe thuyền có thể cập bến, thuận tiện bốc hành lên chợ. Chung quanh chợ có nhiều cửa hiệu của người Việt, Hoa, Âởn, Pháp... Hàng hóa phong phú. Các cửa hàng ăn lúc nào cũng tấp nập đông đúc. Các đường phố như Catinat (Đồng Khởi), Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), De La Somme (Hàm Nghi)... là các đường phố lớn ở khu trung tâm tiêu biểu cho thành phố Sài Gòn. Đầu thế kỷ XX, Catinat là trung tâm sinh hoạt, mua bán của giới thượng lưu thuộc địa, nổi tiếng thanh lịch.
    Nguyễn Liên Phong đã mô tả:
    Nhứt là đường Catinat
    Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
    Bực thềm lót đá sạch tinh
    Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
    Máy may mấy chỗ quá nhiều
    Các tiệm tủ ghế dập dìu phô trương
    Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương
    Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
    Những đồ Đại Pháp, Huê Kỳ
    Ăng-lê, Nhựt Bổn món gì cũng sang
    Hàng Tây các sấp nhẩy tràn
    Xiêm, Miên, Bắc thảo đồ đoàn bố vi

    [​IMG] Biến đổi Văn hóa - Xã hội
    Văn hóa - Giáo dục
    [​IMG]Do hoàn cảnh lịch sử, chữ quốc ngữ được phổ biến sớm nhất ở nước ta trước hết là tại Sài Gòn. Trước khi Pháp xâm lược, chữ quốc ngữ chỉ dùng trong phạm vi truyền bá đạo Thiên Chúa.
    Chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, người Pháp không muốn duy trì nền giáo dục Hán học vì họ xem là nguồn đào tạo những sĩ phu yêu nước. Lấy chữ quốc ngữ thay chữ Hán, người Pháp muốn cắt đứt truyền thống yêu nước, xem chữ quốc ngữ như là một vũ khí xâm lược về tinh thần. Cũng chính vì thế lúc đầu nhân dân Sài Gòn và lục tỉnh tẩy chay không chịu học chữ quốc ngữ. Nhưng trái với mục đích của thực dân Pháp, chữ quốc ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ cập kiến thức cho đông đảo quần chúng, làm cho báo chí có điều kiện phát triển và vào đầu thế kỷ, chữ quốc ngữ đã làm công việc chuyển tải tư tưởng yêu nước đến với đồng bào qua báo chí và văn thơ. Chữ quốc ngữ trong tay những sĩ phu yêu nước trở thành một vũ khí đấu tranh như Trần Quý Cáp nhận định: "Chữ quốc ngữ là hồn trong nước".
    [​IMG]Mười bốn năm sau khi đánh chiếm Gia Định, người Pháp mới mở ngôi trường đầu tiên lại là trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) để đào tạo những viên chức trong bộ máy hành chính thuộc địa.
    [​IMG]Sở Học chính Nam Kỳ chỉ được thành lập vào năm 1879, năm chính quyền Nam Kỳ được chuyển giao cho các thống đốc dân sự, cùng với một chương trình giáo dục Pháp - Việt.
    Vào đầu thế kỷ XX, 5 quận của thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ đều có một trường sơ cấp cho nam học sinh và một tường sơ cấp cho nữ học sinh.
    Theo Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca được viết vào năm 1902, Sài Gòn có các trường:

    • Trường "Bổn Quốc" Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn): dành cho học sinh Pháp. Đây là trường trung học công lập đầu tiên của Sài Gòn.
    • Trường Taberd (nay là trường Trung học Sư phạm): do linh mục Henri de Kerlan thành lập năm 1874, do các linh mục giảng dạy. Đến năm 1889, các sư huynh được mời dạy.
    • Trường nam tiểu học Sở Cọp: gọi như vậy vì trường ở sát vườn bách thảo, dành cho trẻ em bản xứ thành lập năm 1862.
    • Trường nữ tiểu học: ở gần trường nam
    • Trường nữ trung học, trường Áo Tím: đến năm 1915 mới thành lập.
    • Trường đào tạo linh mục mà Nguyễn Liên Phong gọi theo thời bấy giờ là trường Latinh.
    [​IMG]Xem như thế, hệ thống giáo dục ở Sài Gòn sau hơn 60 năm còn rất nhỏ nhoi nhằm phục vụ quan chức và binh lính viễn chinh, đồng thời lôi kéo thanh thiếu niên, thực dân Pháp bước đầu cũng tổ thức nhà hát, các loại hình thể thao như bóng đá, quần vợt, đua ngựa....
    Và... đầu độc
    [​IMG]Sự phát triển của Sài Gòn dưới chế độ thuộc địa là để phục vụ cho thực dân. Có hiểu các mục đích cuối cùng đó mới giải thích được sự kinh doanh thuốc phiện, một thứ ma túy độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe và tiền đồ của cả một dân tộc. Thuế thuốc phiện là một nguồn tài chính quan trọng mà ngay từ năm 1860 Pháp đã thu được hơn 13.000 đồng bạc, chiếm gần một phần mười tổng số thu nhập. Sang năm 1861, thuế thuốc phiện thu được đã tăng gấp đôi. Tóm lại, trong hai năm đầu, nguồn thuế này đã đem lại cho ngân sách một số tiền khổng lồ.
    Ngày 28-12-1861, Đô đốc Bonard đã ký nghị định thiết lập cho trưng thầu độc quyền khai thác thuốc phiện. Gần mười năm sau, 5-10-1871 Đô đốc Ohier ký nghị định thiết lập chế độ độc quyền rượu và cho đấu thầu khai thác từ ngày 1-1-1872.
    Vậy là từ năm 1874, chính quyền thuộc địa đã mở đấu thầu buôn bán rượu và thuốc phiện vào một mối.
    [​IMG]Số thuốc phiện mà Sài Gòn nhập mỗi năm một tăng. Năm 1871 là 359 thùng (tương đương 22 tấn), năm 1875 con số đó là 549 thùng và năm 1879 đã tăng lên 861 thùng (52 tấn). Đến cuối năm 1881, chính quyền thành lập ngành thuế gián thu khai thác độc quyền rượu và thuốc phiện, khởi công xây dựng xưởng nấu thuốc phiện.
    Xưởng nấu thuốc phiện tọa lạc trên diện tích một mẫu tây ở đầu đường Hai Bà Trưng hiện nay, là "niềm hãnh diện" của chính quyền thuộc địa, là một trong những "kỳ quan" của Sài Gòn:
    "Trong không khí thanh bình của những buổi mai rạng rỡ, du khách, ngự trên những chiếc xe có cu ly kéo, đi du ngoạn từ phía châu thành ra mé bờ sông, dưới những rặng cây xanh màu cẩm thạch, khi đến gần những cầu tàu của Hải quân thì bỗng dưng mũi bị kích thích bởi một mùi vị lạ lùng, vừa ẩm ướt vừa độc địa, vừa êm dịu vừa say mê. Đối với những người đã nhập đạo, thì mùi vị đó mách bảo rằng du khách đang ở cạnh công xưởng yên tĩnh nấu thuốc phiện của Đông Dương, một cơ quan nhà nước duy nhất vào loại này..." (Dr.A.Hesnard - La Fabrication de l'Opium à Saigon).
    Số thuốc phiện sản xuất ở đây được bán khắp Đông Dương và số tiền thu được do việc đầu độc người bản xứ này thật là lớn lao: 6,8 triệu đồng năm 1902, tăng lên 13 triệu đồng năm 1914, chiếm từ 25% (1902) đến 36,9% (1914) tổng số thu nhập chính của ngân sách Đông Dương !
    Năm 1894, Pháp khai trương nhà máy rượu.
    Báo chí - xuất bản
    Về báo chí, báo tiếng Pháp xuất hiện khá sớm trên đất Sài Gòn, ngay cả khi Pháp chưa chiếm trọn Nam Kỳ. Đó là các tờ Le bulletin officiel de l'expé***ion de la Cochinchine (1861 - 1888), Le bullentin des Communes (1862). Tờ báo tiếng Việt đầu tiên là tờ Gia Định báo (1865) tiếp đến là các tờ Phan Yên báo (1868), Thông loại khóa trình (1888). Đến đầu thế kỷ XX, báo chí mới thật sự có vai trò vận động quần chúng như tờ Nông Cố Mín Đàm (1901 - 1924) và tờ Lục Tỉnh Tân Văn (1907 - 1943)
    [​IMG]Trước hết là tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Sài Gòn mà cũng là của Việt Nam. Gia Định báo lúc đầu ra mỗi tháng một kỳ, 4 trang, khổ 25x32. Mục đích của tờ báo được Đề đốc G.Roxe trình bày rõ trong văn thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa ngày 9-5-1865:
    "Tờ báo này nhằm phổ biến trong các giới dân bản xứ tất cả những tin tức đáng cho họ lưu ý và cho họ có một kiến thức về những vấn đề mới có liên quan đến văn hóa và những tiến bộ về canh nông... Nó sẽ góp phần vào việc thay thế chữ của chúng ta vào chữ Hán, một thứ chữ mà chỉ có một thiểu số quan lại hiểu biết mà thôi".
    Từ khi Trương Vĩnh Ký được giao làm giám đốc Gia Định báo (1869) và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút thì Gia Định báo đã cổ động cho lối học mới, phát triển chữ quốc ngữ và khuyến khích dân chúng học chữ quốc ngữ:
    "Nông Cố Mín Đàm đã đăng nhiều bài tiến bộ, có ít nhiều ý thức về vai trò văn hóa và tư tưởng của một cơ quan ngôn luận. Chính nó đăng những bài đầu tiên về Duy Tân, Minh Tân..."
    [​IMG]Báo Lục Tỉnh Tân Văn từ khi Trần Chánh Chiếu làm chủ bút đã kêu gọi cuộc Minh Tân, góp phần trong phong trào Duy Tân của cả nước đầu thế kỷ XX. Cùng với sự ra đời rất sớm của các tờ báo Việt ngữ, các sách Nôm và sách Hán được phiên âm và dịch ra quốc ngữ khá nhiều: Đại Nam quốc sử diễn ca (1871), Gia huấn ca (1882), Phan Trần (1889), Lục Vân Tiên (1889), Tam Tự Kinh (1887), Đại học, Trung Dung (1889), Minh Tâm bửu giám (1891). Và cũng trong thời gian đó, nhiều tác phẩm, nhiều công trình biên soạn đã được xuất bản, đáng chú ý là cuốn Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của.


    [​IMG] Hoạt động kinh tế Sài Gòn từ sau 1859
    Sài Gòn nằm trên khúc uốn thuộc hữu ngạn sông Sài Gòn, một phụ lưu của sông Đồng Nai, cách biển 100km thủy trình. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng đất cao Đông Nam Bộ, độ dốc sông nhỏ, sức xâm thực kém, nước sông chứa ít phù sa. Vùng cửa sông có rừng sác giữ vai trò siết dòng, hạn chế việc lắng tụ phù sa ở cửa sông. Lòng sông sâu 8m lúc triều cường, cho phép các tàu trọng tải lớn ra vào Sài Gòn dễ dàng. Hơn nữa, vùng biển Nam Bộ thuộc chế độ thủy triệu bán nhật, nên các tàu lớn có mực nước lòng tàu sâu chỉ mất tối đa 12 giờ để có thể vào cảng. Nghĩa là không phải mất nhiều thời gian neo tàu ở tiền cảng Vũng Tàu.
    Từ những thuận lợi trên đây, Sài Gòn dần dần trở thành một thương cảng quan trọng trên hải trình châu Âu - Viễn Đông.
    Hoạt động kinh tế của Sài Gòn trong những năm đầu Pháp thuộc chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu.
    [​IMG]Ngay năm 1860, đã có 246 tàu phương Tây và thuyền buồm của Trung Hoa chuyển vận hàng đến Sài Gòn và bốc dỡ hàng đi. Tổng số hàng chuyển đi lên tới 63.299 tô-nô, trong đó có 53.939 tô-nô gạo trị giá 5.184.000 quan Pháp. Trị giá hàng nhập khẩu cùng năm là 1,5 triệu quan Pháp (thuốc phiện chiếm 0,5 tấn). Việc bốc xếp hàng tại cảng Sài Gòn do các "chánh" người Hoa đảm nhận.
    Các mặt xuất khẩu gồm lúa gạo, cá khô (chở từ biển hồ ở Cao Miên về) dầu thực vật, đường mía, rau sấy khô, gòn.
    Từ 1863, hàng xuất khẩu có thêm một số mặt hàng truyền thống như tơ tằm, muối, đay. Các sản phẩm này phục hồi và phát triển nhanh, sản lượng đã vượt nhu cầu nội địa, còn thừa để xuất khẩu.
    [​IMG]Một mặt hàng xuất khẩu mới cũng phát triển rất nhanh từ 1863 là gỗ chất đốt và gỗ xây dựng. Thực tế nhu cầu gỗ để xây dựng đã có từ khi Pháp chiếm Sài Gòn. Do chiến sự tiếp diễn người Pháp chưa khai thác gỗ ở rừng Nam Kỳ nên phải nhập từ Singapore.
    Năm 1863, tình hình ở ba tỉnh miền Đông ổn định, người Pháp mới xúc tiến việc khai thác gỗ rừng vừa đổ cung cấp cho nhu cầu tại chỗ vừa để xuất khẩu. Trị giá gỗ xuất khẩu vào 1864 lên đến 11 triệu quan Pháp.
    [​IMG]Hàng nhập khẩu vào Sài Gòn gồm ba nhóm:

    • Nhóm 1: Thực phẩm và hàng hóa nhập từ Trung Hoa do Trung Hoa sản xuất, cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của người Hoa tại Chợ Lớn, người Việt ở Sài Gòn và vùng phụ cận.
    • Nhóm 2: Thực phẩm và các sản phẩm phục vụ cho yêu cầu xây dựng thành phố Sài Gòn.
    • Nhóm 3: Thực phẩm và các sản phẩm do chính quyền thuộc địa cho nhập để nuôi quân, cung cấp cho các cửa hàng, cung cấp chất đốt cho các tàu hơi nước.
    Tổng tải trọng hàng nhập và cảng Sài Gòn 1862 là 53.201 tônô. Trong số ba nhóm hàng nhập khẩu, nhóm hai là nhóm có nhiều mặt hàng phong phú với khối lượng lớn.
    Thống kê nhịp độ lui tới của tàu buôn các nước với Sài Gòn trong năm 1862
    Tên gọi
    Cập bến
    Rời bến


    Tàu sắt
    Thuyền Trung Hoa
    Tàu sắt
    Thuyền Trung Hoa

    Số lượng
    114
    72
    129
    65

    Trọng tải (tônô)
    45.645
    7.556
    51.847
    7.346

    Thủy thủ đoàn (người)
    2.600
    2.196
    2.821
    2.251

    Hành khách (người)
    1.395
    1.460
    1.027
    777
    Tổng hợp tàu thường cập và rời bến Sài Gòn 1862 (theo quốc tịch tàu)

    • Cập Bến
    Quốc tịch
    Tổng số (chiếc)
    Trọng tải (tônô)
    Thủy thủy đoàn (người)
    Hành khách (người)

    Pháp
    44
    22472
    1314
    330

    Anh
    43
    12496
    1039
    652

    Đức (Hamburg)
    7
    2465
    97
    132

    Mỹ
    6
    3348
    92
    30

    Đan Mạch
    6
    1444
    78
    157

    Pérou
    1
    895
    40
    3

    Bỉ
    1
    890
    20
    18

    Đức (Brême)
    1
    299
    14
    21

    Hà Lan
    114
    45645
    260
    1395

    Thuyền Trung Hoa
    72
    7556
    2196
    1460

    Tổng cộng
    186
    53201
    4796
    2855

    • Rời bến
    Quốc tịch
    Tổng số (chiếc)
    Trọng tải (tônô)
    Thủy thủy đoàn (người)
    Hành khách (người)

    Pháp
    51
    24895
    1153
    464

    Anh
    49
    15013
    1120
    330

    Đức (Hamburg)
    7
    2465
    214
    31

    Mỹ
    6
    3330
    84
    19

    Đan Mạch
    7
    1733
    112
    4

    Pérou
    2
    1790
    54
    50

    Bỉ
    1
    890
    20
    63

    Đức (Brême)
    1
    299
    14
    5

    Hà Lan
    5
    1432
    70
    51

    Thuyền Trung Hoa
    64
    7271
    2237
    777

    Tổng cộng
    194
    59193
    5072
    1804
    Theo dõi lượng hàng hóa trao đổi giữa Nam Kỳ và bên ngoài, nhìn chung là tăng, nhưng do biến động chiến sự từ việc quân Pháp dẹp các nguồn khánh cự của nghĩa quân Nam Kỳ đã ảnh hưởng nhất định đến sản xuất. Do đó dẫn đến sự giảm sút lượng hàng xuất khẩu. Khi tình hình ổn định trở lại sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng, lượng hàng xuất khẩu do đó cũng tăng vọt. Theo dõi lượng gạo xuất khẩu ta thấy:
    Năm 1860 xuất ....... 53.939 tônô
    Năm 1862 xuất ....... 42.000 tônô
    Năm 1863 xuất ....... 16.853 tônô
    6 tháng đầu năm 1864 xuất ....... 50.220 tônô

    [​IMG]Việc phát triển mậu dịch giữa Sài Gòn với bên ngoài dần dần kéo theo sự phát triển nhiều ngành sản xuất mới. Trường hợp người Hoa ở Chợ Lớn nhập đường kết tinh để tái xuất sang Trung Quốc dẫn đến việc người Pháp cho thành lập nhà máy lọc đường tại Sài Gòn là một ví dụ. Trước đây việc đan bao đệm chủ yếu dùng để đựng hàng xuất khẩu, đến nă, 1862 bao đệm thành một mặt hàng xuất khẩu: năm 1862 xuất 417.998 chiếc; năm 1863 xuất 2.305.190 chiếc. Tương tự đối với muối ăn, tơ tằm, gỗ xây dựng....
    Có thể nói thời điểm quân Pháp doàn tất việc chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, hoạt động xuất nhập khẩu tại Sài Gòn càng lúc càng tấp nập. Hoạt động này là một trong số ít nguồn thu chính yếu của thuộc địa. Tính từ 1-7-1866 đến 30-6-1867 số tàu cập và rời bến Sài Gòn là 887 chiếc, với tổng giá trị hàng xuất nhập khẩu lên đến 53 triệu quan Pháp.
    Như vậy cho đến giữa thập niên 60 của thế kỷ XIX Sài Gòn thực sự là một thành phố thương mại phồn thịnh, một thương cảng có sức thu hút mạnh, có đủ điều kiện bước vào cuộc đua tranh với các đô thị lớn ở khu vực Đông Nam Aá thời bấy giờ như Singapore, Batavia (Djakarta), Manile.








  9. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    [​IMG]
  10. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    [​IMG]

    1965

Chia sẻ trang này